|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 91/2024/DS-ST Ngày 29/7/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Thắng;
- Ông Ngô Thanh Ngọc Cảnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân P.
Địa chỉ: Số B T, khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vương Bảo T, sinh năm 1990 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Quỹ tín dụng nhân dân P.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978 – Chức vụ: Cán bộ tín dụng. Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (Theo Giấy uỷ quyền số 01/2024/GUQ-QTD ngày 05/01/2024). Có mặt.
* Bị đơn: Bà Trương Thị Mỹ D, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn T1 là người đại diện theo ủy quyền của Quỹ tín dụng nhân dân P1 (sau đây viết tắt là Quỹ tín dụng) trình bày như sau:
Vào ngày 28 tháng 10 năm 2022, bà Trương Thị Mỹ D có ký hợp đồng tín dụng vay số 207/22DPH/HĐTD tại Quỹ tín dụng nhân dân P để vay số tiền 30.000.000đồng, thời hạn vay: 12 tháng (kể từ ngày 28/10/2022 đến ngày 28/10/2023), lãi suất vay: 18%/ năm. Mục đích vay: Mua đồ trang trí nội thất.
Đến hạn là ngày 28/10/2023, Quỹ tín dụng nhân dân P đã nhiều lần nhắc nhở, đôn đốc trả nợ nhưng bà D không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ. Trong quá trình vay, bà D có trả cho Q tín dụng được số tiền vốn 18.000.000đồng, hiện nay còn nợ số tiền vốn 12.000.000đồng và tiền lãi chưa trả. Tính đến ngày 18/6/2024, bà D còn nợ Quỹ tín dụng số tiền vốn 12.000.000đồng và tiền lãi trong hạn: 3.064.400đồng và tiền lãi quá hạn 3.305.200đồng, tổng cộng là 18.369.600đồng.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, bà D đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 105/20DPH/HĐTC ngày 27/08/2020 thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 149,3m², thuộc thửa số 84, tờ bản đồ số 41, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: CS06131 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 28/5/2019 cho bà Trương Thị Mỹ D. Việc thế chấp có đăng ký giao dịch đảm bảo đúng theo quy định.
Nay Quỹ tín dụng nhân dân P yêu cầu bà D có trách nhiệm trả số tiền tạm tính đến ngày 18/6/2024 tổng cộng là 18.369.600đồng, trong đó số tiền vốn 12.000.000đồng, tiền lãi trong hạn là: 3.064.400đồng và tiền lãi quá hạn 3.305.200đồng,
Đồng thời yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 105/20DPH/HĐTC ngày 27/08/2020 được ký kết giữa Quỹ tín dụng nhân dân P với bà Trương Thị Mỹ D để đảm bảo cho việc thi hành án.
Tại phiên tòa, Quỹ tín d yêu cầu bà D có trách nhiệm trả số tiền vốn 12.000.000 đồng và số tiền lãi tạm tính đến ngày 29/7/2024 là 6.724.600 đồng. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 105/20DPH/HĐTC ngày 27/08/2020 được ký kết giữa Quỹ tín dụng nhân dân P với bà Trương Thị Mỹ D
* Bị đơn bà Trương Thị Mỹ D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến trình bày.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu:
Trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật theo Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đã vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền vốn, lãi tính đến ngày 29/7/2024, tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo cho việc thi hành án. Bị đơn phải nộp án phí, chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Trương Thị Mỹ D có địa chỉ tại ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Trương Thị Mỹ D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà D.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét hợp đồng tín dụng số 207/22DPH/HĐTD ngày 28/10/2022 và Giấy nhận nợ ngày 28/10/2022 để vay số tiền 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng). Mục đích vay: Mua đồ trang trí nội thất. Thời hạn vay 12 tháng từ ngày 28/10/2022 đến ngày 28/10/2023. Quỹ tín dụng đã giải ngân số tiền 30.000.000 đồng cho bà D theo phiếu chi ngày 28/10/2022. Trong quá trình vay, bà D có trả cho Q tín dụng được số tiền vốn 18.000.000đồng, hiện nay còn nợ số tiền vốn 12.000.000đồng và tiền lãi chưa trả. Tính đến ngày 29/7/2024, bà D còn nợ Quỹ tín dụng số tiền vốn 12.000.000đồng và tiền lãi trong hạn lãi trong hạn: 3.064.400đồng và tiền lãi quá hạn 3.660.200đồng, tổng cộng là 18.724.600đồng.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, để làm rõ khoản nợ nêu trên Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bà D đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, đồng thời để đối chiếu nợ nhưng bà D vẫn vắng mặt không có lý do xem như đã từ bỏ quyền cung cấp chứng cứ, quyền tự bảo vệ lợi ích của mình.
Do bị đơn bà D vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện để yêu cầu trả số tiền gốc và lãi theo các hợp đồng nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà D có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền gốc, lãi tính đến ngày 29/7/2024 và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 30/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[2.2] Tài sản thế chấp:
Tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay trên là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 84, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: CS06131 ngày 28/5/2019 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho bà Trương Thị Mỹ D.
Việc thế chấp tài sản được lập thành hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 105/20DPH/HĐTC ngày 27/08/2020 được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T cùng ngày. Tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp đảm bảo theo quy định của pháp luật. Hợp đồng thế chấp nêu trên có đầy đủ chữ ký của Quỹ tín dụng và các bên liên quan, các chủ thể ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật, tài sản thế chấp được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, hợp đồng thế chấp phù hợp pháp luật về cả hình thức và nội dung. Tại thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp có căn nhà có cấu trúc vách thiếc, khung gỗ tạp, mái tole, hiện nhà khóa cửa, không có ai đang ở trên phần đất thế chấp này.
Vì vậy, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án của nguyên đơn phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 600.000đồng; Chi phí này nguyên đơn đã nộp tạm ứng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó bà D có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn chi phí tố tụng là 600.000đồng (sáu trăm nghìn đồng).
[4] Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định HĐXX nên chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà D phải chịu nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các Điều 157, 228, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 317, 318, 320, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 91, Điều 95 Luật Các chức tín dụng năm 2010;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T2.
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân P:
Buộc bà Trương Thị Mỹ D có nghĩa vụ trả cho Q tín dụng nhân dân Phú Hòa số tiền gốc và lãi đến ngày 29/7/2024 là 18.724.600đồng (mười tám triệu, bảy trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm đồng); trong đó: Số tiền nợ gốc là: 12.000.000đồng (mười hai triệu đồng), số tiền lãi trong hạn: 3.064.400 đồng (ba triệu, không trăm sáu mươi bốn nghìn, bốn trăm đồng), lãi quá hạn là: 3.660.200đồng (ba triệu, sáu trăm sáu mươi nghìn, hai trăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 30/7/2024), khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng vay số 207/22DPH/HĐTD ngày 28/10/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Trương Thị Mỹ D không trả nợ đầy đủ các khoản nợ trên thì Quỹ tín dụng nhân dân P được quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 84, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: CS06131 ngày 28/5/2019 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho bà Trương Thị Mỹ D, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 105/20DPH/HĐTC ngày 27/08/2020 được ký kết giữa Quỹ tín dụng nhân dân P với bà Trương Thị Mỹ D để thu hồi nợ.
2. Về chi phí tố tụng: Bà Trương Thị Mỹ D có trách nhiệm hoàn trả cho Quỹ tín dụng nhân dân P1 chi phí tố tụng là 600.000đồng (sáu trăm nghìn đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Trương Thị Mỹ D phải nộp 936.000đồng (chín trăm ba mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Quỹ tín dụng nhân dân P1 số tiền 760.000đồng (bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013586 ngày 01/02/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
4. Về quyền kháng cáo: Quỹ tín dụng nhân dân P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thị Vân |
Bản án số 91/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 91/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện cảu Quỹ TD
