TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2023/HS-ST Ngày: 28-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hà;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thạch Cương;
2. Ông Trần Hữu Thiện.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tuấn Kiệt - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trường THCS C, ấp B, xã C, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Dương Thị L, sinh năm 1977, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp P, xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Dương Viết N (chết) và bà Phan Thị B (chết); không có chồng, có một con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Thị L là người nghiện ma tuý, làm nghề bán vé số. Ngày 09-10-2023, khi đi bán vé số ở khu vực xã L, Huyện D, L gặp người tên T không rõ lý lịch mà L quen trước đó khi đi phụ bán quán cà phê ở tỉnh Bình Phước. Trong lúc nói chuyện, L nói với T là đang sử dụng ma tuý nên T cho L 01 bịch ma túy để sử dụng. L cất giấu bịch ma túy vào ngăn bên phải giỏ xách mà L sử dụng hàng ngày đi bán vé số, rồi tiếp tục đi bán vé số. Đến 16 giờ ngày 11-10-2023, khi L đang ở nhà thuộc ấp P, xã P, Huyện D thì bị Công an Huyện D kiểm tra bắt quả tang thu giữ trong túi xách của L 01 bịch nylon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng được niêm phong (Ký hiệu M).
Quá trình điều tra, L đã thừa nhận hành vi phạm tội.
Kết luận giám định số: 1603/KL-KTHS ngày 19-10-2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu M) bên trong 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín bốn đầu gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1362 gam.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1603 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, trợ lý giám định viên Nguyễn Văn Đ và dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T;
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng chất ma tuý gồm: 01 (một) bình nhựa; 02 (hai) ống nhựa; 01 (một) ống thuỷ tinh;
- 01 (một) túi xách màu đen.
Về kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện L không có sở hữu tài sản riêng nên Cơ quan điều tra không kê biên.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của L, Công an huyện D đã xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với người tên T không rõ lý lịch bán ma túy cho L, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 88/CT-VKSDMC ngày 29-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Dương Thị Loan về tội về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương Thị L từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có điều kiện nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện D; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Vào ngày 11-10-2023, tại ấp P, xã P, Huyện D, bị cáo Dương Thị L đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 0,1362 gam để sử dụng thì bị bắt quả tang.
- Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma tuý nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma tuý để sử dụng nhằm thoả mãn cơn nghiện, đây cũng là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo, và phòng ngừa tội phạm.
- Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- [4.1] Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, bị cáo không có tài sản, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy chứa trong 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1603 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, trợ lý giám định viên Nguyễn Văn Đ và dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T, là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với dụng cụ bị cáo sử dụng ma tuý của bị cáo và túi xách màu đen không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Từ những nhận định trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Dương Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Thị L 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1603 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, trợ lý giám định viên Nguyễn Văn Đ và dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T;
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng chất ma tuý gồm: 01 (một) bình nhựa; 02 (hai) ống nhựa; 01 (một) ống thuỷ tinh;
- 01 (một) túi xách màu đen.
Hiện nay, Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu đang quản lý các vật chứng trên.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Dương Thị L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bị cáo có mặt tại toà được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tiếp theo ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Cẩm Hà |
Bản án số 91/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 91/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Dương Thị Loan đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 0,1362 gam để sử dụng thì bị bắt quả tang. Xử phạt bị cáo 01 năm tù
