Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 91/2024/HS- ST

Ngày 26/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán: Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Kha.
  2. Ông Nguyễn Hồng Phương.
  3. Ông Đặng Thiên Hùng.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bá T - Kiểm sát viên trung cấp

Trong ngày 26/9/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2024/HSST ngày 09/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 12/9/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh năm 1982; tên gọi khác: không; giới tính: nam; nơi cư trú: thôn B, xã T., huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; họ tên bố: Nguyễn T T (đã chết); họ tên mẹ: Hoàng Thị P, sinh năm 1955; họ tên vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; con: bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 2010; nhỏ sinh năm 2018; gia đình bị cáo có 02 chị em, bản thân là thứ hai; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên tòa)

*Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N:

Luật sư Dương Ngọc T1 – Văn phòng Luật sư Dương Ngọc T1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có tại phiên tòa)

Địa chỉ: số F đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1971 (có tại phiên tòa)
  2. Địa chỉ: thôn Hải Y1, xã Trù H1, huyện Lục N, tỉnh Bắc Giang

  3. Ông Lý Thế Q, sinh năm 1987.
  4. Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

  5. Ông Đinh Văn N1, sinh năm 1978
  6. Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

  7. Ông Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1985. (có mặt tại phiên tòa)
  8. Địa chỉ: thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986. (có mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: số A, ngõ B, đường T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc N.

* Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1996. (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Bản Mùi P, xã Kiên T, huyện Lục N, tỉnh Bắc Giang

  3. Ông Lý Minh H1, sinh năm 1985. (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: khu L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Văn N bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng đầu tháng 01/2018, Nguyễn Văn N, sinh năm 1982, trú tại thôn B, xã T., huyện L, tỉnh Bắc Giang có dự định mua xe ô tô bằng nguồn tiền tiết kiệm và gia đình cho. Tuy nhiên, trước khi mua, N1 đã chi tiêu cá nhân hết số tiền giành để mua xe. Sợ gia đình biết việc, N đã tìm hiểu việc mua xe bằng hình thức trả góp. N1 liên hệ với cửa hàng xe ô tô tại quận L, thành phố H để trao đổi việc mua xe trả góp, thế chấp với ngân hàng V (V). Sau đó, N1 đưa vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1986 đến cửa hàng xe ô tô T, thuộc quận L, thành phố H để mua xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Vios, biển kiểm soát 98A-163.43, màu sơn đen. Trước và khi mua, N1 giấu không nói cho chị H biết việc mua xe bằng hình thức trả góp. Khi làm thủ tục mua xe tại cửa hàng bán xe, N1 có đưa

cho chị H ký vào các hợp đồng mua xe, hợp đồng thế chấp xe tại Ngân hàng. N1 nói dối chị H1 đó là hợp đồng mua bán xe và hợp đồng bảo hiểm xe, chị H tin tưởng đã không kiểm tra nên đã ký vào các hợp đồng này cùng N1. N1 mua xe và thế chấp Giấy đăng ký xe cho Ngân hàng V1 để vay số tiền là 394.000.000 đồng trong thời gian từ ngày 12/01/2018 đến 12/01/2021. Ngân hàng V1 giữ Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, xe được giao cho N1 quản lý, sử dụng; theo hợp đồng khi cho thuê, mượn phải được sự đồng ý của ngân hàng.

Khoảng đầu tháng 4/2018, do đang nợ tiền của nhiều người và không còn tài sản để đảm bảo trả nợ, N1 đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác bằng cách lên mạng xã hội đặt làm giả Giấy chứng nhận đăng ký chiếc xe ô tô trên mang tên mình rồi dùng để đi lừa bán lấy tiền trả nợ, chi tiêu cá nhân. Thực hiện ý đồ của mình, N1 lên mạng xã hội Facebook, đặt làm giả 03 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 030835, tên chủ xe Nguyễn Văn N, biển số đăng ký 98A-163.43 với giá 1.000.000 đồng/ 1 chiếc từ một người không quen biết, rồi nhận giấy giả và thanh toán tiền qua nhân viên chuyển phát.

Sau khi có được Giấy chứng nhận đăng ký xe giả, ngày 23/4/2018, N1 đem xe ô tô trên và 01 giấy đăng ký giả đến lừa bán cho anh Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1971, trú tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do không biết N1 sử dụng Giấy đăng ký xe giả nên anh T2 đã đồng ý mua xe của N1 với giá 400.000.000 đồng. Anh T2 trả cho N1 số tiền 150.000.000đồng; còn 250.000.000 đồng, N1 và anh T2 thoả thuận sẽ trừ vào tiền N1 đã vay anh T2 trước đó. N1 giao xe và Giấy đăng ký giả cho anh T2. Đến ngày 03/5/2018, N1 đặt vấn đề mượn lại ô tô đã bán cho anh T2 để đi lại và có viết giấy mượn xe ô tô của anh T2, anh T2 đồng ý giao xe cho N1 mượn nhưng giữ lại đăng ký xe.

Ngày 23/7/2018, N sử dụng giấy đăng ký giả thứ hai tiếp tục mang đi lừa bán chiếc xe trên cho anh Lý Thế Q, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L. Anh Q cũng không biết giấy tờ xe là giả nên đồng ý mua xe của N1 với giá 400.000.000 đồng. Anh Q trả cho N1 số tiền 340.000.000 đồng; còn 60.000.000 đồng, N1 và Anh Q thoả thuận sẽ trừ vào tiền N1 đã vay Anh Q trước đó. Khi bán xe, N1 đưa Giấy đăng ký giả cho Anh Q2 Sau đó, N1 cũng đặt vấn đề mượn lại xe ô tô để đi lại và viết giấy mượn xe ô tô với Anh Q2 Anh Q đồng ý cho mượn và giao xe cho N1 nhưng giữ lại đăng ký xe.

Ngày 18/9/2018, N1 tiếp tục sử dụng giấy đăng ký giả còn lại để lừa bán chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1985, trú tại thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh Q1 cũng không biết giấy tờ xe là giả nên đồng ý mua xe của N1 với giá 370.000.000 đồng. Anh Q1 trả cho N1 số tiền 300.000.000 đồng; còn 70.000.000 đồng, N1 và anh Q1 thoả thuận sẽ trừ vào số

tiền mà N1 đã vay của anh Q1 trước đó (giấy vay tiền thể hiện N1 vay 72.500.000 đồng, bao gồm tiền gốc 70.000.000 đồng và tiền lãi 2.500.000 đồng). Khi bán xe, N1 đưa Giấy đăng ký giả cho anh Q1. Sau đó, N cũng đặt vấn đề mượn lại xe ô tô để đi lại và viết giấy mượn xe ô tô với anh Q1 như với anh T2 và Anh Q2

Khi làm giấy bán, mượn lại xe với anh T2, Anh Q và anh Q1, N1 đều đưa cho vợ là Nguyễn Thị H cùng ký. Do không biết N1 mua xe trả góp và làm giả giấy đăng ký xe nên khi bán và mượn lại xe với anh T2, chị H đã ký vào giấy tờ cùng N1; khi bán xe cho Anh Q, N1 nói dối chị H rằng N1 đã trả tiền cho anh T2 để lấy lại xe nên chị H tưởng thật đã cùng ký vào giấy tờ bán, mượn lại xe với Anh Q theo yêu cầu của N1; còn khi bán xe cho anh Q1 là thời điểm chị H đang sinh con tại Bệnh viện S, N1 đã mang giấy bán xe, giấy mượn lại xe từ anh Q1 kẹp vào các giấy tờ làm thủ tục nhập viện của chị H rồi đưa cho chị H ký, chị H tưởng rằng đó đều là các giấy tờ nhập viện của mình như N1 nói nên không đọc và ký vào các giấy tờ này. Toàn bộ tiền của anh T2; Anh Q và anh Q1 đều do N1 nhận và chi tiêu, sử dụng hết, chị H không biết.

N1 sử dụng xe ô tô trên đến ngày 09/10/2018 thì mang đến nhà anh Đinh Văn N1, sinh năm 1978, trú tại thôn T, xã N (nay là tổ dân phố T, thị trấn C), huyện L cầm cố lấy số tiền 200.000.000 đồng rồi chi tiêu cá nhân hết. Việc cầm cố, N1 không nói cho chị H biết.

Đến hạn trả xe ô tô, anh T2; Anh Q và anh Q1 đòi nhiều lần nhưng N1 không có xe trả và lấy nhiều lý nhằm trốn tránh, rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Sau đó các bị hại đã làm đơn tố giác Nguyễn Văn N về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Văn N bỏ trốn sang Trung Quốc. Đến khoảng tháng 05/2020, N1 liên lạc về và nói cho chị H biết mình đang ở Trung Quốc, chị H có nói cho N1 biết việc N1 đang bị Công an truy nã do anh T2, Anh Q làm đơn tố giác N1 về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đến cuối năm 2022, N1 về Việt Nam, chị H khuyên N1 ra đầu thú nhưng N1 nói muốn đi làm, phụ giúp gia đình một thời gian và kiếm tiền để khắc phục hậu quả rồi sẽ ra đầu thú. Ngày 25/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã phát hiện và bắt được N1 tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

Vật chứng và tài liệu của vụ án

  • - Anh Nguyễn Xuân T2 giao nộp 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 030835, tên chủ xe Nguyễn Văn N; 01 Giấy bán (cho, tặng) xe mô tô, ô tô đề ngày 23/4/2018; 01 giấy biên nhận mượn xe đề ngày 03/5/2018; 01 giấy chứng nhận kiểm định số: KC3969371 (bút lục 108);
  • - Anh Lý Thế Q giao nộp: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô số: 030835 tên chủ xe Nguyễn Văn N; 01 Giấy cam kết bán xe đề ngày 23/7/2018; 01 Giấy mượn xe đề ngày 23/7/2018 (bút lục 178).
  • - Anh Nguyễn Văn Q1 giao nộp: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô số: 030835 tên chủ xe Nguyễn Văn N; 01 Hợp đồng mua, bán xe đề ngày 18/9/2018; 01 Giấy mượn xe đề ngày 18/9/2018; 01 Giấy vay tiền đề ngày 07/9/2018 (bút lục 307).
  • - Anh Đinh Văn N1 giao nộp 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Vios E, màu đen, biển số đăng ký 98A-163.43, số khung: 9F37J5030885, số máy: 2NRX261580; 01 Giấy vay tiền để lại tài sản đề ngày 09/10/2018; 01 Giấy biên nhận thế chấp ngân hàng V1, thông tin thế chấp Nguyễn Văn N; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số: [...]; 01 biên lai thu tiền phí sử dụng đường bộ MST: 2400339721; 01 hoá đơn dịch vụ đăng kiểm số: 0011218 đề ngày 12/01/2018 (bút lục 207; 209).
  • - Thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Văn N: 01 quyển lý lịch quân nhân chuyên nghiệp công nhân quốc phòng; 01 phiếu quân nhân số SHQN: 04144009; 01 giấy chứng nhận bậc thợ; 01 giấy phép lái xe số Q348574; 01 giấy phép lái xe số 1631020 bị cắt chéo ở góc trên cùng bên phải, tất cả đều mang tên Nguyễn Văn N; 01 sơ yếu lý lịch tự thuật mang tên Nguyễn Thị H (bút lục 219-220).

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Vios, màu đen, biển số đăng ký 98A-163.43, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc ô tô trên cho ông Trần Văn T3, sinh năm 1972, trú tại số C K, quận T, TP H là Đại diện ngân hàng TMCP V (bút lục 336- tập 1).

Đối với 03 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 030835 mang tên chủ xe Nguyễn Văn N (giấy giả); 01 giấy chứng nhận kiểm định số: KC3969371; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số [...] và các giấy tờ thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Văn N hiện đang được bảo quản, quản lý tại kho vật chứng thuộc Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh B.

Các tài liệu đồ vật còn lại đã nhập vào hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kết quả giám định:

  • - Tại bản Kết luận giám định số 899 ngày 29/5/2019; Kết luận giám định bổ sung số 256 ngày 29/02/2020; Kết luận giám định số 2356 ngày 01/12/2023 và số 1425 ngày 30/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận đối với các

Giấy chứng nhận đăng ký xe; giấy tờ mua, bán xe, mượn xe và cầm cố xe và Giấy vay tiền do các bị hại giao nộp như sau:

  • + 03 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 030835, Tên chủ xe: Nguyễn Văn N – SN 1982, địa chỉ: thôn B, T4 H., L, Bắc Giang, biển số đăng ký: 98A – 163.43 là giả, được làm bằng phương pháp in phun màu.
  • + Chữ viết, chữ ký trên các giấy tờ mua, bán xe, giấy mượn xe, giấy cầm cố xe, giấy vay tiền dưới các mục “người bán xe”; “người mượn xe”; “người vay tiền” là do Nguyễn Văn N ký, viết ra (bút lục 60-61; 68; 252-253).

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại yêu cầu Nguyễn Văn N phải trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, cụ thể: Anh Nguyễn Xuân T2 yêu cầu trả 400.000.000 đồng; anh Lý Thế Q yêu cầu trả 400.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn Q1 yêu cầu trả 370.000.000 đồng và anh Đinh Văn N1 yêu cầu trả 200.000.000 đồng.

Đối với hành vi của Nguyễn Thị H cùng N1 ký vào giấy tờ mua bán xe, mượn xe ô tô với anh T2; Anh Q và anh Q1. Quá trình điều tra xác định, H2 không được bàn bạc và không biết N1 thế chấp xe ô tô cho Ngân hàng; không biết N1 làm giả giấy tờ xe ô tô để đem xe đi bán; không được chi tiêu, hưởng lợi gì từ số tiền N1 phạm tội. Cơ quan điều tra xác định H2 không phải là đồng phạm với N1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Sau khi N1 bỏ trốn, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra Quyết định truy nã bị can đối với Nguyễn Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự và thông báo cho chị H biết (Quyết định không ghi rõ điểm, khoản của điều luật); mặt khác, chị H sau khi biết N1 bị truy nã đã thông tin cho N1 biết và khuyên bảo N1 ra đầu thú. Do vậy, Cơ quan điều tra xác định Nguyễn Thị H không phạm tội “Không tố giác tội phạm”.

Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKS-P2 ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bị cáo N1 trình bày: bị cáo xác nhận cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Do không có tiền để chi tiêu cá nhân và trả nợ, nên năm 2018, bị cáo đã lên mạng xã hội đặt làm giả 03 Giấy chứng nhận đăng ký đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Vios, biển kiểm soát 98A-163.43, màu

sơn đen mà bị cáo đang thế chấp vay tiền tại ngân hàng, sau đó sử dụng mang đi lừa bán, cầm cố để chiếm đoạt tiền của người bị hại. Từ ngày 23/4/2018 đến ngày 09/10/2018, bị cáo đã sử dụng đăng ký xe giả và chiếc xe mà bị cáo đang thế chấp vay tiền tại ngân hàng để lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền 1.370.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm bảy mươi triệu đồng) của 04 người bị hại là các anh Nguyễn Xuân T2, Lý Thế Q, Nguyễn Văn Q1 và Đinh Văn N1. Bị cáo thực hiện hành vi một mình, không nói cho ai biết, chị H vợ bị cáo cũng không biết bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của mọi người. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã bỏ trốn. Đến nay, bị cáo chưa bồi thường được cho bị hại. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại là anh Nguyễn Xuân T2 trình bày như sau: Bị cáo đã có hành vi gian dối, dùng giấy tờ giả để chiếm đoạt của anh số tiền 400.000.000đồng, đến nay bị cáo chưa trả được cho anh đồng nào, anh đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường cho anh số tiền trên. Về hình phạt anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị hại là anh Nguyễn Văn Q1 trình bày như sau: Bị cáo đã có hành vi gian dối, dùng giấy tờ giả để chiếm đoạt của anh số tiền 370.000.000đồng, đến nay bị cáo chưa trả được cho anh đồng nào, anh đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường cho anh số tiền trên. Về hình phạt anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị H có mặt tại phiên toà và trình bày: Bị cáo có bảo chị ký vào một số giấy tờ mua bán xe, mượn xe ô tô nhưng chị không biết bị cáo thế chấp xe cho Ngân hàng, không biết bị cáo làm giả giấy tờ xe để mang đi bán, chị cũng không được chi tiêu hưởng lợi gì đối với số tiền N1 chiếm đoạt. Sau khi N1 bỏ trốn chị đã khuyên N1 ra đầu thú nhưng N1 không nghe.

Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng; người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đã được Hội đồng xét xử công bố lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo đồng ý và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã giữ N1 quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn N.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 12 (mười hai) năm đến 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn N 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 15 (mười năm) năm đến 16 (mười sáu) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 25/9/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại gồm:

  • - Anh Nguyễn Xuân T2 số tiền 400.000.000đồng (Bốn trăm triệu đồng).
  • - Anh Lý Thế Q số tiền 400.000.000đồng (Bốn trăm triệu đồng).
  • - Anh Nguyễn Văn Q1 số tiền 370.000.000đồng (Ba trăm bẩy mươi triệu đồng).
  • - Anh Đinh Văn N1 số tiền 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu huỷ, các giấy tờ giả, giấy tờ không còn giá trị sử dụng:

  • - 01 (một) phong bì thư được dán niêm phong kí hiệu "ĐK1" có dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện L, chữ ký của Diệp Chí C, Phạm Văn K, Lý Thê Q3, Hoàng Văn B, bên trong có: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 030835, tên chủ xe N1 Văn N1, biển kiểm soát 98A-163.43, nhãn hiệu TOYOTA, số loại VIOS E, màu sơn đen;
  • - 01 (một) phong bì thư được dán niêm phong kí hiệu "ĐK2" có dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện L, chữ ký của Diệp Chí C, Phạm Văn K, Nguyễn Xuân T2, Hoàng Văn B, bên trong có: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 030835, tên chủ xe N1 Văn N1, biển kiểm soát 98A-163.43, nhãn hiệu TOYOTA, số loại VIOS E, màu sơn đen;
  • - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô sô 030835, tên chủ xe N1 Văn N1, biển kiếm soát 98A-163.43, nhãn hiệu TOYOTA, số loại VIOS E, màu sơn đen;
  • - 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số [...], chủ xe Nguyễn Văn N do Công ty B1 cấp ngày 11/8/2018.
  • - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký kiểm định số KC 3969371, biển số đăng ký 98A-163.43, nhãn hiệu TOYOTA, số loại VIOS E do Trung tâm đăng kiểm 9801S cấp ngày 12/01/2018;

* Trả lại bị cáo các giấy tờ:

  • - 01 (một) quyển lý lịch quân nhân chuyên nghiệp công nhân quốc phòng họ tên Nguyễn Văn N;
  • - 01 (một) phiếu quân nhân số SHQN: 04144009, mang tên Nguyễn Văn N;
  • - 01 (một) giấy chứng nhận bậc thợ mang tên Nguyễn Văn N;
  • - 01 (một) giấy phép lái xe số Q348574 mang tên Nguyễn Văn N;
  • - 01 (một) giấy phép lái xe số 1631020 mang tên Nguyễn Văn N bị cắt chéo ở góc trên cùng bên phải;

* Trả lại chị Nguyễn Thị H: 01 (một) sơ yếu lý lịch tự thuật mang tên Nguyễn Thị H.

[10]. Các vấn đề khác:

Đối với hành vi của Nguyễn Thị H cùng N ký vào giấy tờ mua bán xe, mượn xe ô tô với anh T2; Anh Q và anh Q1. Quá trình điều tra xác định, H2 không được bàn bạc và không biết N1 thế chấp xe ô tô cho Ngân hàng; không biết N1 làm giả giấy tờ xe ô tô để đem xe đi bán; không được chi tiêu, hưởng lợi gì từ số tiền N1 phạm tội. Cơ quan điều tra xác định H2 không phải là đồng phạm với N1 về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" là có căn cứ.

Sau khi N1 bỏ trốn, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra Quyết định truy nã bị can đối với Nguyễn Văn N về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự và thông báo cho chị H biết (Quyết định không ghi rõ điểm, khoản của điều luật); mặt khác, chị H sau khi biết N1 bị truy nã đã thông tin cho N1 biết và khuyên bảo N1 ra đầu thú. Do vậy, Cơ quan điều tra xác định Nguyễn Thị H không phạm tội "Không tố giác tội phạm" là có căn cứ.

Đối với hành vi làm giấy tờ giả: N1 thấy trên Facbook quảng cáo làm giấy tờ giả, N1 đã vào Facebook bằng tài khoản của N1 nhưng N1 không nhớ đã sử dụng tài khoản nào do N sử dụng nhiều tài khoản Facebook và đặt làm 03 đăng

ký xe ô tô biển kiểm soát 98A-163.43 tên N1 với giá 3.000.000đồng. Sau khi đặt khoảng 10 ngày, N1 được một người giao cho ba đăng ký xe ô tô giả tại khu vực thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, N1 không hỏi và không biết thông tin, lai lịch của người đó. Do vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, xử lý đối với người đã làm số giấy tờ giả cho N1.

[11]. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326 Nghị quyết 326/2016/UBTVH ngày 16/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm của số tiền 1.370.000.000 đồng, cụ thể là: (36.000.000 + 3% x 570.000.000) = 53.100.000đồng theo quy định của pháp luật.

[12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Về trách nhiệm hình sự:

  • - Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn N.
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  • - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn N 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 25/9/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại gồm:

  • - Anh Nguyễn Xuân T2 số tiền 400.000.000đồng (Bốn trăm triệu đồng).
  • - Anh Lý Thế Q số tiền 400.000.000đồng (Bốn trăm triệu đồng).
  • - Anh Nguyễn Văn Q1 số tiền 370.000.000đồng (Ba trăm bẩy mươi triệu đồng).
  • - Anh Đinh Văn N1 số tiền 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng).

3. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi

theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Tịch thu sung tiêu huỷ, các giấy tờ giả, giấy tờ không còn giá trị sử dụng:

  • - 01 (một) phong bì thư được dán niêm phong kí hiệu "ĐK1" có dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện L, chữ ký của Diệp Chí C, Phạm Văn K, Lý Thê Q3, Hoàng Văn B, bên trong có: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 030835, tên chủ xe N1 Văn N1, biến kiềm soát 98A-163.43, nhãn hiệu TOYOTA, số loại VIOS E, màu sơn đen;
  • - 01 (một) phong bì thư được dán niêm phong kí hiệu "ĐK2" có dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện L, chữ ký của Diệp Chí C, Phạm Văn K, Nguyễn Xuân T2, Hoàng Văn B, bên trong có: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 030835, tên chủ xe N1 Văn N1, biển kiểm soát 98A-163.43, nhãn hiệu TOYOTA, số loại VIOS E, màu sơn đen;
  • - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô sô 030835, tên chủ xe N1 Văn N1, biển kiếm soát 98A-163.43, nhãn hiệu TOYOTA, số loại VIOS E, màu sơn đen;
  • - 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số [...], chủ xe Nguyễn Văn N do Công ty B1 cấp ngày 11/8/2018.
  • - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký kiểm định số KC 3969371, biển số đăng ký 98A-163.43, nhãn hiệu TOYOTA, số loại VIOS E do Trung tâm đăng kiểm 9801S cấp ngày 12/01/2018;

* Trả lại bị cáo:

  • - 01 (một) quyển lý lịch quân nhân chuyên nghiệp công nhân quốc phòng họ tên Nguyễn Văn N;
  • - 01 (một) phiếu quân nhân số SHQN: 04144009, mang tên Nguyễn Văn N;
  • - 01 (một) giấy chứng nhận bậc thợ mang tên Nguyễn Văn N;
  • - 01 (một) giấy phép lái xe số Q348574 mang tên Nguyễn Văn N;
  • - 01 (một) giấy phép lái xe số 1631020 mang tên Nguyễn Văn N bị cắt chéo ở góc trên cùng bên phải;

* Trả lại chị Nguyễn Thị H: 01 (một) sơ yếu lý lịch tự thuật mang tên Nguyễn Thị H.

(Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 41/QĐ-VKS-P2 ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang).

6. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 53.100.000đồng (Năm mươi ba triệu, một trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

8. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà N;
  • - VKSND cấp cao tại Hà N;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • -Trại tạm giam- Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Cổng thông tin điện tử của TAND Tối cao;
  • - Lưu HS, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS- ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 91/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn N. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn N 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 25/9/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger