Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH TƯỜNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày: 26-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Triển

2. Ông Phùng Văn Thông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Lê Nhật Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại nhà văn hóa thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2024/TLST - HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Trung T, sinh ngày 29/4/1996; nơi cư trú: Thôn D, xã Y, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung D, sinh năm 1976 và bà Đinh Thị H, sinh năm 1976; có vợ là Nguyễn Ngọc T1 và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Nguyễn Tiến L, sinh ngày 31/12/2005; nơi cư trú: Thôn S, xã Y, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965 và bà Bùi Thị V, sinh năm 1961; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/4/2024 đến ngày 02/5/2024 chuyển tạm giam đến nay có mặt tại phiên tòa.

1

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/4/2024 đến ngày 02/5/2024 chuyển tạm giam đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Anh Phạm Thanh T2 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 00 phút ngày 26/4/2024, tại tổ dân phố Y, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Tổ công tác Công an huyện V bắt quả tang Nguyễn Tiến L và Nguyễn Trung T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật, vật chứng thu giữ, tạm giữ gồm:

- Thu trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu ZEST để trong túi quần bên phải phía trước L đang mặc có:

  • + 01 túi nilon không màu, miệng túi có mép vuốt màu trắng, đường kẻ màu xanh bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, L khai nhận đó là túi ma túy ketamine của L và T vừa mua được với mục đích sử dụng cho bản thân. Tang vật được niêm phong vào 01 phong bì thư theo đúng thủ tục pháp luật, ký hiệu A1.
  • + 01 túi nilon không màu, miệng túi có mép vuốt màu trắng, đường kẻ màu xanh bên trong có chứa 01 viên nén hình elip màu trắng, một mặt của viên nén in chìm ký tự “MASERATI”, mặt còn lại in chìm hình vương miện, L khai nhận đó là viên ma túy kẹo của L và T vừa mua được với mục đích sử dụng cho bản thân. Tang vật được niêm phong vào 01 phong bì thư theo đúng thủ tục pháp luật, ký hiệu A2.

- Tạm giữ trong túi quần bên trái L đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 6S Plus màu bạc đã cũ, màn hình điện thoại bị nứt, vỡ ở nhiều vị trí bên trong không lắp sim.

- Tạm giữ trong túi quần bên trái T đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI màu đen đã cũ, bên trong lắp sim thuê bao 0392.304.456.

- Tạm giữ của T 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota loại Vios đã cũ, gắn biển kiểm soát 30F-915.34.

Ngày 27/4/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tiến L tại thôn S, xã Y, huyện T, thành phố Hà Nội và Nguyễn Trung T tại thôn D, xã Y, huyện T, thành phố Hà Nội. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì.

2

Ngày 26/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 763 gửi đến Phòng K - Công an tỉnh V giám định mẫu vật A1, A2 có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy không? Loại chất ma túy, tiền chất gì? Khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?

Ngày 30/4/2024, Phòng K - Công an tỉnh V có bản Kết luận giám định số 1151, xác định:

“Các hạt tinh thể màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,0176g (Một phảy không một bảy sáu gam, không kể bao bì) loại Ketamine.

01 (Một) viên nén màu trắng hình elip của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4440g (Không phảy bốn bốn bốn không gam, không kể bao bì) loại MDMA.”

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho Cơ quan trưng cầu gồm: A1 = 0,7182 gam, A2 = 0,2831 gam cùng toàn bộ bao gói được niêm phong chung trong phong bì giấy theo đúng quy định của pháp luật, trên giáp lai niêm phong có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng K - Công an tỉnh V.

Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận giám định cho L và T. L và T nhất trí với nội dung kết quả trưng cầu giám định, không có ý kiến thắc mắc gì.

Về nguồn gốc số ma túy, L và T khai nhận: Khoảng hơn 17 giờ ngày 25/4/2024, Nguyễn Trung T sử dụng điện thoại REDMI bên trong lắp sim thuê bao 0392.304.456 của mình để đăng nhập vào tài khoản M "Nguyễn Trung T" của T để liên lạc với tài khoản M "Luận Bát Ma" của L để nhờ L mua hộ 01 chỉ ma túy ketamine, 01 viên ma túy kẹo với mục đích để cả hai cùng nhau sử dụng. Do biết một người đàn ông ở khu vực thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc bán ma túy ketamine, ma túy kẹo nên L nhận lời đồng ý mua hộ và thông báo với T mức giá để mua ma túy là 2.100.000 đồng, T đồng ý và tiếp tục sử dụng chiếc điện thoại REDMI trên đăng nhập vào tài khoản 1620101236666 của ngân hàng Q mang tên "NGUYEN TRUNG THUC" của T chuyển khoản số tiền 2.100.000 đồng vào số tài khoản 00004022561 tại ngân hàng T5 (T6) mang tên “NGUYEN VAN TUAN” (số tài khoản này do L quản lý, sử dụng). Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, L sử dụng điện thoại Iphone 6 Plus không lắp sim của mình đăng nhập tài khoản Messenger "Luận Bát Ma" của L để gọi đến tài khoản "Nguyễn Trung T" của T để hẹn T đi đến thị trấn V mua ma túy. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota loại Vios đã cũ gắn biển kiểm soát 30F-915.34 đi từ xã Y đến đón L tại xã Y rồi cả hai cùng nhau đi đến

3

thị trấn V để tìm mua ma túy. Khi đi đến cửa hàng S ở gần ngã tư thị trấn V, huyện V, L bảo T dừng xe rồi L đi vào quán gặp anh Hoàng Đức H1, sinh năm 1984 trú tại xã T, huyện V là chủ cửa hàng, tại đây L có trao đổi với anh H1 là L có nhu cầu chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng ra tiền mặt thì anh H1 đồng ý và bảo lấy 10.000 đồng tiền phí dịch vụ, L đồng ý và sử dụng số tài khoản 00004022561 tại ngân hàng T5 (T6) mang tên “NGUYEN VAN TUAN” chuyển vào số tài khoản 106572333666 tại ngân hàng C1 mang tên “HOANG DUC HAI” của anh H1 số tiền 1.920.000 đồng rồi anh H1 đưa lại cho L số tiền mặt là 1.910.000 đồng (đã trừ 10.000 đồng tiền phí). Sau khi rút được tiền, L đi bộ sang quán tạp hóa gần đó mua sữa, nước ngọt, thuốc lá hết số tiền 110.000 đồng rồi quay lại xe ô tô, chỉ dẫn cho T điều khiển xe ô tô đưa L đến gần cổng Khách sạn Đ ở thị trấn V để tìm mua ma túy. Khi đến nơi L thấy có 01 người đàn ông đang đứng ở ven đường gần 01 chiếc xe mô tô, L nghĩ đó là người bán ma túy nên xuống xe đi đến hỏi người đó: “Anh có bán đồ không”, người đó hiểu ý L muốn mua ma túy nên đáp lại: “Lấy bao nhiêu”, L trả lời: “Một chỉ, một viên” thì người đó trả lời “Một triệu tám”, L đưa cho người đó số tiền 1.800.000 đồng gồm 02 tờ tiền polime mệnh giá 500.000 đồng và 04 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng. Người đó cầm tiền L đưa rồi bảo L lên xe ô tô và đi theo để nhận ma túy. Sau đó L lên xe và bảo T đi theo người bán ma túy. Khi đến đoạn đường gần 01 quán rửa xe đối diện Vực xanh thì người bán ma túy ra hiệu bảo L xuống xe rồi đưa L đến khu vực vỉa hè giáp Vực xanh và chỉ cho L vị trí cất giấu ma túy ở tại gốc cây cách xe ô tô của L và T đang dừng đỗ khoảng 5m. L đi đến thì thấy dưới mặt đất gần gốc cây đó có 01 bao thuốc lá nhãn hiệu ZEST. Mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có 01 túi nilon chứa ma túy ketamine, 01 túi nilon chứa 01 viên ma túy kẹo nên L cầm vỏ bao thuốc chứa ma túy cất vào trong túi quần bên phải phía trước đang mặc và đi đến xe ô tô của T để đi về. Khi L đi đến gần cửa xe ô tô của T thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang L, T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thu giữ các vật chứng như nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 85/CT-VKSVT ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung T và Nguyễn Tiến L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T và Nguyễn Tiến L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 01 năm 06

4

tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 26/4/2024).

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 26/4/2024).

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2]. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trung TNguyễn Tiến L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường. Xét lời nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được; phù hợp với kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 26/4/2024, tại tổ dân phố Y, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác Công an huyện V bắt quả tang Nguyễn Tiến LNguyễn Trung T có hành vi tàng trữ trái phép 1,0176g ma túy loại Ketamine và 0,4440g ma túy loại MDMA để sử dụng cho bản thân. Vật chứng thu giữ: Thu trong trong túi quần bên phải phía trước L đang mặc: 01 túi nilon chứa 1,0176g ma túy loại Ketamine, 01 túi nolon chứa 0,4440g ma túy loại MDMA; Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 6S Plus bên trong không lắp sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI bên trong lắp

5

sim thuê bao 0392.304.456; 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota vios gắn BKS: 30F-915.34.

[3]. Hành vi của Nguyễn Trung TNguyễn Tiến L tàng trữ 02 chất ma túy khác nhau mục đích để bản thân cùng sử dụng, căn cứ theo khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ - CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, được tính như sau: Ma túy loại ketamine mà T, L tàng trữ có khối lượng 1,0176 gam thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; ma túy loại MDMA Thực, L tàng trữ có khối lượng 0,4440 gam thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tỷ lệ % về khối lượng ketamine mà T, L tàng trữ so với mức tối thiểu quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là (1,0176g/20g x 100%) = 5,088%; Tỷ lệ % về khối lượng MDMA mà T, L tàng trữ so với mức tối thiểu quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là (0,4440g/5g x 100%) = 8,88%. Tổng tỷ lệ phần trăm của 02 loại ma túy là: 5,088% + 8,88% = 13,968% thuộc trường hợp dưới 100% nên tổng khối lượng chất ma túy MDMA và Ketamine T3, L tàng trữ thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này."

[4]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân biết chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong nhân dân.

[5]. Xét vai trò, nhân thân của các bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Đây là vụ án đồng phạm, trong đó bị cáo Nguyễn Trung T là người khởi xướng, sử dụng tiền của mình đưa cho L và chở L đi mua ma túy nên giữ vai trò

6

chính. Bị cáo L giữ vai trò là người thực hành, trực tiếp mua ma túy và cất giấu ma túy. Do đó, hình phạt của bị cáo T phải cao hơn hình phạt của bị cáo L. Tuy nhiên, khi xem xét quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhưng nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù để các bị cáo có thời gian cải tạo thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7]. Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Tiến L cao khoảng 1,65m, dáng người trung bình, tóc đen, cắt ngắn, khoảng 30 tuổi, T và L không biết rõ tên, tuổi, địa điểm cụ thể của người này, không nhớ rõ đặc điểm chiếc mô tô người đàn ông này sử dụng. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành triệt để các biện pháp nghiệp vụ nhưng chưa xác định được người đàn ông đó là ai, ở đâu. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với anh Hoàng Đức H1 là chủ cửa hàng điện thoại Hoàng H1, người đã đổi tiền từ tài khoản ngân hàng ra tiền mặt cho Nguyễn Tiến L ngày 26/4/2024, quá trình điều tra xác định anh H1 hoàn toàn không biết hay liên quan gì đến hành vi phạm tội của L. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề nghị xem xét xử lý đối với H1 là phù hợp.

Đối với số tài khoản 00004022561 tại ngân hàng T6 mang tên “NGUYEN VAN TUAN". Quá trình điều tra, xác định anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 2003 trú tại thôn S, xã Y, huyện T, thành phố Hà Nội là chủ số tài khoản trên (anh T4 là cháu của Nguyễn Tiến L). Khoảng tháng 11/2023, anh T4 cho L số tài khoản trên để L sử dụng. Việc L sử dụng tài khoản này nhận tiền từ T để mua ma túy thì anh T4 không biết, không liên quan gì. Do đó, Cơ quan điều tra không đề nghị xem xét xử lý đối với T4 là phù hợp.

Về vật chứng vụ án:

Đối với mẫu vật gồm: A1 = 0,7182 gam, A2 = 0,2831 gam cùng toàn bộ bao gói do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

7

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 6S Plus màu bạc đã cũ, màn hình điện thoại bị nứt, vỡ ở nhiều vị trí bên trong không lắp sim thu giữ của L, quá trình điều tra xác định là chiếc điện thoại của L đã sử dụng để liên lạc, trao đổi mua hộ ma túy cho T. Do vậy đề nghị tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0392.304.456 thu giữ của T, quá trình điều tra xác định đó là chiếc điện thoại và số sim thuê bao của T, chiếc điện thoại được T sử dụng để liên lạc, trao đổi nhờ L mua hộ ma túy nên đề nghị tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước. Đối với sim thuê bao 0392.304.456, do T không đề nghị trả lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota vios đã cũ gắn biển kiểm soát 30F-915.34, có số khung: 3F38K5075638, số máy: 2NRX496922 tạm giữ của T, quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô trên là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Trung D sinh năm 1976 trú tại xã Y, huyện T, thành phố Hà Nội (là bố đẻ của T). Ngày 26/4/2024, T điều khiển chiếc xe ô tô trên đi mua ma túy thì ông D không biết, không liên quan gì. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông D chiếc xe ô tô nêu trên là phù hợp.

Đối với số tiền mua ma túy, ngày 25/4/2024, T chuyển cho L 2.100.000 đồng để L dùng mua ma túy. Ngày 26/4/2024, L sử dụng 1.800.000 đồng để mua ma túy. Số tiền còn lại là 300.000đ, L đã tiêu sài cá nhân hết, chưa trả lại cho T thì bị bắt quả tang. Tại phiên tòa bị cáo T không có đề nghị gì đối với số tiền 300.000đ. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung TNguyễn Tiến L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 26/4/2024).

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 26/4/2024).

8

Về các vấn đề khác: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tịch thu tiêu hủy đối với mẫu vật gồm: A1 = 0,7182 gam, A2 = 0,2831 gam cùng toàn bộ bao gói do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định.

Tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 6S Plus màu bạc đã cũ, màn hình điện thoại bị nứt, vỡ ở nhiều vị trí bên trong không lắp sim và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI màu đen đã cũ.

Tịch thu tiêu hủy 01 sim thuê bao 0392.304.456 của bị cáo T.

(Toàn bộ vật chứng tịch thu tiêu hủy của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/8/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).

Các bị cáo Nguyễn Trung TNguyễn Tiến L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo có mặt quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Vĩnh Tường;
  • - CA huyện Vĩnh Tường;
  • - THADS huyện Vĩnh Tường;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS + VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Văn Tuấn

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Trung T cùng đồng phạm phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger