Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/DSST

Ngày: 25 tháng 7 năm 2024

V/v tranh chấp “Quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bùi Phương Quyền.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Trí.
  2. Bà Phan Thị Nga.

- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Nhựt Huy, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang, Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 và ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2021/TLST-DS, ngày 09 tháng 3 năm 2021, về tranh chấp “Quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2024/QĐXXST-DS, ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 242/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Hồ Văn N, sinh năm 1947; địa chỉ: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hồ Trung C, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 24/4/2023); có mặt.

    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Lê Thị C1 – Luật sư văn phòng luật sư Lê Thị C1; có mặt

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Thanh G, sinh năm 1967 và bà Lê Thị Minh T, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt;
    2. Bà Nguyễn Ngọc N1, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt;
    3. Ủy ban nhân dân xã N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và các biên bản hòa giải nguyên đơn ông Hồ Văn N do ông Hồ Trung C đại diện theo ủy quyền trình bày,

Nguồn gốc đất là do ông bà để lại từ trước năm 1975; đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vào năm 2003, do quen biết, thấy nhà ông P đang ở chỗ sạt lở nên ông N có thoả thuận miệng là chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn P diện tích đất bằng căn nhà của ông P tại nơi sạt lở ngang 3,1m, dài 8m = 24,8m², tọa lạc ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, với giá 2.000.000 đồng (ông N đã nhận tiền xong). Sau đó ông P đã cất nhà theo diện tích nêu trên; đến năm 2007, ông P tự ý sửa chữa nhà nới rộng ra nhà, cất thêm nhà bếp phía sau lấn chiếm sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông nên ông có yêu cầu Ủy ban nhân dân xã N hoà giải tại biên bản hoà giải ngày 15/3/2007, ông P thừa nhận diện tích đất nhận chuyển nhượng là ngang 3,1m, dài 8m = 24,8m² và càm kết khi nào nhà bếp hư sẽ tháo dỡ trả lại diện tích đất lấn chiếm lại cho ông nhưng ông P không thực hiện; đến năm 2020 ông P tiếp tục xây dựng hàng rào trên phần đất của ông nên ông Hồ Văn N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn P phải di dời hàng rào, mái che, nhà phụ, cây trồng trả lại cho ông N diện tích đất lấn chiếm là 81,6m² (trong đó có 4m² thuộc taluy đường).

Ông thống nhất với kết quả đo đạc hiện trạng của Văn phòng đăng ký đất đai – chi nhánh huyện C ngày 12/12/2023, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản định giá của Tòa án. Ông không yêu cầu Tòa án tiến hành đo đạc, xem xét thẩm định và định giá lại.

Bị đơn ông Nguyễn Văn P vắng mặt tại các phiên hòa giải nhưng tại đơn yêu cầu phản tố như sau: Do nhà ở khu vực sạt lở nên vào năm 2003, vợ chồng ông P có đến gia đình ông N để hỏi mua đất để ở thì ông N đồng ý. Khi bán, ông N nói bán cho vợ chồng ông P ngang 5m, dài đến mé sông (khoảng 18m) với giá 2.000.000 đồng. Ông N bán với giá này vì khu vực này đất hay lở. Khi mua bán, hai bên chỉ nói miệng, không làm giấy tờ. Do không có tiền để cất nhà mới nên vào năm 2003, ông P di dời căn nhà cũ của ông P (có diện tích ngang 4,5m, dài 10m) từ khu sạt lở để cất trên phần đất ông mới nhận chuyển nhượng quyền sử dụng từ ông N. Sau đó, bếp nhà bị hư hỏng nên ông P sửa lại và nới rộng ra như hiện nay. Vì vậy, ông P không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N và yêu cầu phản tố yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P với ông N đối với quyền sử dụng đất diện tích 90m² (ngang 5m, dài 18m).

Tại phiên Tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Nguyễn Văn P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh G, bà Lê Thị Minh T, bà Nguyễn Ngọc N1, Ủy ban nhân dân xã N vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự, Điều 166, 203 Luật Đất đai, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị:

  • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Văn N đối với ông Nguyễn Văn P.
  • Buộc ông Nguyễn Văn P phải tháo dỡ, di dời: phần nhà bếp được tại các điểm 13,C, 8, 9, 10, 11, 12 có diện tích 12,5m²; hàng rào lưới B40 tại các điểm 21, 4, 1 và 06 cây dừa; 04 cột cây tạp để làm khung cất mái che phía sau căn nhà bếp trả lại cho ông N diện tích đất 52,1m² được giới hạn tại điểm 1,2,19,13,12,5,16,Β, 15,4.
  • Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn P đối với ông Hồ Văn N về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
  • Buộc ông Nguyễn Văn P trả giá trị đất cho ông Hồ Văn N với tổng số tiền 21.680.000 đồng.
  • Ông Nguyễn Văn P được tiếp tục sử dụng phần diện tích đất 55,5m2 tại các điểm 19,14, B, 5, 12. Trong đó có 13,3m² được giới hạn bởi các điểm 3,14, B,17, 16 là taluy đường liên xã.
  • Các đương sự được có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền kê khai và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai đối với diện tích đất nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn ông Hồ Văn N có nơi cư trú tại ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, đất tranh chấp tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Hồ Văn N khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn P trả diện tích đất lấn chiếm nên quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp quyền sử dụng đất theo Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[3] Bị đơn ông Nguyễn Văn P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh G, bà Lê Thị Minh T, bà Nguyễn Ngọc N1, Ủy ban nhân dân xã N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là có căn cứ.

[4] Qua kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ được thể hiện bằng Sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp của Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh C, ngày 19/7/2024. Cụ thể:

Các điểm: 1,2,3,4, có diện tích 107,6m², là phần diện tích đất tranh chấp;

Các điểm 5,7,8,9,10,11,12 có diện tích 48,4m², là diện tích nhà của ông Nguyễn Văn P. Trong đó, các điểm 5,6,12,13 có diện tích 89,4m² là 01 phần căn nhà; các điểm 6,7,8,9,10,11,12,13 có diện tích 20,0m² là 01 phần căn nhà; các điểm 3,4,15,14 có diện tích 15,7m² là ta luy đường liên xã. Quá trình giải quyết và tại phiên Tòa hôm nay nguyên đơn xác định tranh chấp quyền sử dụng đất có diện tích 81,6m² và đồng ý với kết quả đo đạc thể hiện tại Sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp của Văn phòng Đ – chi nhánh C ngày 19/7/2024. Do đó, có cơ sở để Hội đồng xét xử căn cứ vào Sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp của Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh C, ngày 19/7/2024 để giải quyết tranh chấp.

Tại Công văn số 1781/UBND-NC, ngày 23 tháng 8 năm 2022, Ủy ban nhân dân huyện C ký có ý kiến như sau: Phần đất tranh chấp quyền sử dụng đất có diện tích 107,6m² tại các điểm 1,2,3,4 của sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Văn phòng Đ chi nhánh C lập ngày 17/7/2023 thuộc thửa số 44, tờ bản đồ số 44 toạ lạc tại ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang được quy hoạch là đất ở tại nông thôn (ONT), theo Quyết định số 3239/QĐ-UBND ngày 31/12/2021 của UBND tỉnh A về việc phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021-2030 và Kế hoạch sử dụng đất năm đầu huyện C.

[5] Nội dung vụ án: Nguồn gốc đất của ông Hồ Văn N là do ông bà để lại từ trước năm 1975. Vào năm 2003, ông N có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn P diện tích đất ngang 3,1m, dài 8m= 24,8m² (Qua đo đạc thực tế là 28,4m²), tọa lạc ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, với giá 2.000.000 đồng (ông N đã nhận tiền xong) và ông P đã cất nhà theo diện tích nêu trên; phần đất này chưa được cấp quyền sử dụng đất; hai bên chỉ mua bán miệng với nhau mà không có làm hợp đồng chuyển nhượng. Năm 2007, ông P tự ý sửa chữa nhà và lấn chiếm sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông N với diện tích 81,6m² (trong đó có 4m² thuộc taluy đường) trên đất lấn chiếm ông P có xây hàng rào, mái che, nhà phụ, trồng cây. Nên ông N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn P phải di dời hàng rào, mái che, nhà phụ, cây trồng trả lại cho ông N diện tích đất lấn chiếm là 81,6m².

Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: Các biên bản hòa giải của Ủy ban nhân dân xã N ngày 15/3/2007; 09/12/2016; 12/12/2008; 20/7/2020.

[5.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản xác minh địa phương có căn cứ xác định phần diện tích đất tranh chấp nêu trên là của ông Hồ Văn N; điều này cũng được phía bị đơn ông Nguyễn Văn P thừa nhận thể hiện qua đơn phản tố ngày 24/11/2022 và qua các biên bản hoà giải tại Ủy ban nhân dân xã N năm 2007, 2008; năm 2020;

Tuy ông N và ông P chỉ thoả thuận miệng việc chuyển nhượng đất và không nêu cụ thể diện tích đất nhưng tại biên bản hoà giải ngày 15/3/2007, ông P thừa nhận diện tích đất nhận chuyển nhượng là ngang 3,1m, dài 8m; biên bản ghi lời khai ngày 31/8/2023 ông P khai di dời căn nhà cũ từ khu sạt lở sang phần đất mua của ông N và kết quả đo đạc ngày 19/7/2024 của Văn phòng Đ – Chi nhánh C thể hiện phần căn nhà chính được giới hạn bởi các điểm 5,6,13,12 có diện tích 28,4m² (nguyên đơn thống nhất phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông P qua đo đạc thực tế là 28,4m² và không tranh chấp phần diện tích này) là phù hợp với lời trình bày của ông N; do đó có căn cứ xác định hai bên đã chuyển nhượng phần diện tích đất 3,1m, dài 8m = 24,8m² (qua đo đạc thực tế là căn nhà có diện tích là 28,4m²) nên việc nguyên đơn Hồ Văn N khởi khiện yêu cầu bị đơn Nguyễn Văn P tháo dỡ hàng rào, mái che, nhà bếp, cây trồng ngoài diện tích căn nhà nêu trên là có căn cứ nên được chấp nhận.

Tuy nhiên phần diện tích đất mà ông Hồ Văn N yêu cầu thì có các phần diện tích đất sau:

  • Phần diện tích đất giới hạn bởi các điểm: 13,19,3,16,5,6 có diện tích 13,8m² (trong đó các điểm 13,C,7,6 có diện tích 7,3m² là phần căn nhà; các điểm 5,6,20,16 là phần mái che có diện tích 4,7m²)
  • Phần đất taluy được giới hạn bởi các điểm 3,14,B,16 có diện tích là 13,3m² (trong đó các điểm 16,17,18,20 có diện tích 4,0m² là phần mái che; các điểm các điểm 17,18,A,B có diện tích 7,0m²).

Các phần đất này nếu buộc ông Nguyễn Văn P tháo dỡ sẽ ảnh hưởng đến căn nhà; cũng như lối đi từ nhà ra đường liên xã. Do đó, cần ổn định các phần diện tích đất này cho ông Nguyễn Văn P tiếp tục sử dụng đồng thời buộc Nguyễn Văn P hoàn lại giá trị đất trên cho ông Hồ Văn N.

Về giá đất Theo biên bản định giá của Hội đồng định giá giá đất theo giá thị trường là 800.000đ/m², phía nguyên đơn ông Hồ Văn N cũng như người đại diện uỷ quyền, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn không đồng ý giá này mà yêu cầu hoãn phiên toà để định giá lại. Xét thấy tại các buổi làm việc cũng như họp định giá thì nguyên đơn không có ý kiến về giá đất nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận yêu cầu định giá lại của nguyên đơn mà lấy giá theo biên bản định giá của Hội đồng định giá với giá thị trường là 800.000đ/m² để buộc ông P hoàn lại giá trị đất cho ông N cụ thể:

Phần diện tích đất giới hạn bởi các điểm: 13,19,3,16,5,6 có diện tích 13,8m² (trong đó các điểm 13,C,7,6 có diện tích 7,3m² là phần căn nhà chính; các điểm 5,6,20,16 là phần mái che có diện tích 4,7m²)

13,8m² x 800.000đ/m² = 11.040.000đ (mười một triệu không trăm bốn chục nghìn đồng)

Phần đất taluy được giới hạn bởi các điểm 3,14,B,16 có diện tích là 13,3m² (trong đó các điểm 16,17,18,20 có diện tích 4,0m² là phần mái che; các điểm các điểm 17,18,A,B có diện tích 7,0m²)

13,3m² x 800.000đ/m² = 10.640.000đ (mười triệu sáu trăm bốn chục nghìn đồng).

Buộc ông Nguyễn Văn P trả giá trị đất cho ông Hồ Văn N với tổng số tiền 11.040.000₫ + 10.640.000₫ = 21.680.000đ (hai mươi mốt triệu sáu trăm tám chục nghìn đồng).

[5.2] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn: Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P với ông N đối với quyền sử dụng đất diện tích 90m² (ngang 5m, dài 18m). Tuy nhiên ông P đã được Toà án triệu tập nhiều lần và tại phiên toà hôm nay ông P vẫn vắng mặt không có lý do, xem như ông P từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình do đó Hội đồng căn cứ Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn P.

[6] Về chi phí tổ tụng và án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

  • Điều 166 Bộ luật dân sự 2015;
  • Điều 113, 136 Luật Đất đai 2003;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Văn N đối với ông Nguyễn Văn P

Buộc ông Nguyễn Văn P phải tháo dỡ, di dời: phần nhà bếp được giới hạn bởi các điểm: 19,8,9,10,11,12 có diện tích 12,7m²; hàng rào lưới B40 được giới hạn bởi các điểm 21,4,1 và 06 cây dừa; 04 cột cây tạp để làm khung cất mái che phía sau căn nhà bếp để trả lại cho ông Hồ Văn N diện tích đất 52,1m² được giới hạn bởi các điểm 1,2,19,13,12,5,B,15.

Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn P đối với ông Hồ Văn N về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập năm 2003 giữa ông P với ông N.

Ông P được tiếp tục sử dụng phần diện tích đất 55,5m² được giới hạn bởi các điểm 19,14,B,5,12. Trong đó có 13,3m² được giới hạn bởi các điểm 3,14,B,17,16 là taluy đường liên xã.

Buộc ông Nguyễn Văn P trả giá trị đất cho ông Hồ Văn N với số tiền 21.680.000đ (hai mươi mốt triệu sáu trăm tám chục nghìn đồng).

Các đương sự được có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền kê khai và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai đối với diện tích đất nêu trên.

(Sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp của Văn phòng Đ – chi nhánh C ngày 19/7/2024 là một bộ phận không thể tách rời bản án).

- Về chi phí tố tụng: Ông N tự nguyện chịu chi phí đo đạc 1.355.400 đồng và xem xét thẩm định tại chỗ 800.000 đồng. Tổng cộng 2.155.400 đồng (hai triệu một trăm năm mươi lăm nghìn bốn trăm đồng), chi phí này ông N đã tạm ứng và đã thực hiện xong.

Ông Nguyễn Văn P phải chịu chi phí đo đạc 1.355.400 đồng và xem xét thẩm định tại chỗ 1.000.000 đồng. Tổng cộng 2.355.400 đồng (hai triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn bốn trăm đồng), chi phí này ông P đã tạm nộp và đã thực hiện xong.

- Án phí dân sự sơ thẩm: ông Hồ Văn N là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, án phí nên được miễn theo quy định pháp luật.

Ông Nguyễn Văn P, phải chịu 1.084.000 đồng (một triệu không trăm tám mươi bốn nghìn đồng) đồng án phí dân sự sở thẩm,

S công quỹ nhà nước 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà ông P đã nộp theo biên lai thu số 001938 ngày 25 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Chợ Mới;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Phương Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/DSST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 91/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Hồ Văn Nh khởi kiện bị Đơn Nguyễn Văn P yêu cầu trả phần diện tích đất lấn chiếm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger