Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN V

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91 /2024/HS-ST

Ngày 24 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Sang

Ông Vũ Xuân Kỳ

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tho - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 24/10/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 08/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 10/10/2024 đối với bị cáo:

Hoàng Văn M; sinh ngày 04/7/1988 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn D, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình; CCCD số [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 11/12; con ông Hoàng Văn B và bà Trần Thị C; có vợ là chị Tưởng Quỳnh T và có 03 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 250/QĐ/XPVPHC ngày 16/6/2012 của Công an huyện V, phạt M 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt ngày 06/7/2012.

Quyết định xử phạt hành chính số 19/QĐ/XPVPHC ngày 15/01/2014 của Công an huyện V, phạt M 2.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt ngày 01/4/2014.

Quyết định xử phạt hành chính số 925/QĐ-XPVPHC ngày 21/01/2022 của Uỷ ban nhân dân huyện V, phạt M 7.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt ngày 24/01/2022.

Bản án số 77/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 của Toà án nhân dân huyện V xử phạt 01 năm 03 tháng về tội “ Tàng trữ trái phéo chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đã chấp hành xong hình phạt ngày 14/10/2020, nộp xong khoản án phí 200.000 đồng ngày 05/3/2020.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 17/7/2024, đến ngày 22/7/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V. (Có mặt)

* Người chứng kiến:

  1. Ông Tưởng Xuân Á, sinh năm 1952;
  2. Anh Phạm Văn T, sinh năm 1970;

Đều cư trú tại: thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình. (Ông Áng, anh Tình đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/7/2024, tại trục đường DH01 thuộc thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình, Hoàng Văn M bị tổ công tác Công an huyện V kiểm tra người, phát hiện, thu tại túi quần soóc bên trái phía trước đang mặc 01 gói nilon trong suốt được gắn kín, bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng. M khai nhận đó là ma túy, loại Methamphetamine, M mua để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra xe đạp điện do M điều khiển không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, niêm phong gói ma tuý thu trên người M vào phong bì thư dán kín theo quy định.

Bản Kết luận giám định số 1113/KL-KTHS ngày 22/7/2024, của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu của Hoàng Văn M là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3274 gam (Không phẩy, ba nghìn hai trăm bảy mươi tư gam). Methamphetanie STT: 247 Danh mục IIC, phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Về nguồn gốc số ma tuý bị quản lý, bị cáo M khai mua vào khoảng 12 giờ 15 phút ngày 17/7/2024 của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng tại khu vực chân cầu T thuộc thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. M cất gói ma tuý vào túi quần soóc bên trái phía trước đang mặc sau đó điều khiển xe đi về nhà, trên đường về thì bị bắt quả tang.

Cáo trạng số 84/CT-VKSVT ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Hoàng Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn M từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý quản lý của bị cáo được hoàn trả sau giám định trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1113/KL-KTHS ngày 22/7/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản ảnh vật chứng; biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/7/2024, tại trục đường DH01 thuộc thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình, Hoàng Văn M đã có hành vi tàng trữ bên trong túi quần sóoc bên trái phía trước đang mặc 01 gói ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3274 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 Có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Hoàng Văn M là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy gây ra những tác hại khôn lường cho sức khoẻ, trí tuệ người sử dụng, là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý, biết rõ việc Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma tuý, nhưng do nghiện ma tuý nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc để cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo đã 03 lần bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc; 01 lần bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo đã được coi là không có tiền sự và đã được xoá án tích, nhưng Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị pháp luật xử lý nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự do trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cải tạo cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo Hoàng Văn M có nhân thân xấu, cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để tăng cường tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy quản lý của bị cáo hoàn lại sau giám định, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc xe đạp điện quản lý khi bắt quả tang Hoàng Văn M xác định là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1979, cư trú thôn D, xã D, huyện V. Trưa ngày 17/7/2024, M hỏi mượn xe để đi mua thuốc lá, ông Đ không biết M sử dụng xe để đi mua ma tuý. Ngày 09/9/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe đạp điện cho ông Đà là đúng quy định của pháp luật. Bị cáo và ông Đ đều không có yêu cầu gì nên không giải quyết.

[8] Về người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không quen biết, không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/7/2024. Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Văn M 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,2485 (không phẩy hai nghìn bốn trăm tám mươi lăm) gam ma túy, loại Methamphetamine hoàn trả sau giám định, niêm phong trong phong bì số 1113/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình quản lý của Hoàng Văn M.

    (Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và phiếu nhập kho đề ngày 09/10/2024).

  4. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/10/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Cơ sở giam giữ;
  • - Cơ quan CSĐT, cơ quan THAHS Công an huyện V;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện V;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện V;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Thái Bình (gửi qua Công an huyện V)
  • - Lưu Hồ sơ vụ án; Lưu HCTP./.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger