TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2024/HS-ST
Ngày 24-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lã Anh Tuấn
- Bà Hoàng Thị Chính
- - Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lê Văn M, sinh ngày 05 tháng 01 năm 1995 tại Hải Phòng, nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn H, đã chết và bà Lê Thúy N; chưa vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: có 01 tiền án đã xoá án tích: Bản án số 05/2017/HSST ngày 13/4/2017 Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tạm giữ từ ngày 03/04/2024 đến ngày 09/4/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Nguyễn Văn T, sinh ngày 26 tháng 06 năm 1987 tại Hải Phòng, nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn B, đã chết và bà Vũ Thị N1; có vợ là Phạm Thị P (đã ly hôn) có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ từ ngày 03/04/2024 đến ngày 09/4/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Bà Đặng Thị Minh L - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 03/4/2024 Lê Văn M rủ Nguyễn Văn T cùng đi mua ma tuý về sử dụng, T đồng ý và đưa xe mô tô biển kiểm soát 15H1-451.46 cho M điều khiển. Khi M chở T đến khu vực nhà máy nước cầu N thuộc quận K, T đứng ngoài chờ còn M đi bộ vào trong ngõ gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy với giá 300.000 đồng. M cất giấu túi ma túy trên vào trong túi quần bên trái phía trước và đi ra nói với T đã mua được ma tuý, rồi M tiếp tục chở T đi tìm địa điểm để sử dụng ma túy. Trên đường đi, M lấy túi ma tuý đưa cho T cất giấu vào trong túi quần bên phải phía trước T đang mặc. Đến khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, M và T đi đến khu vực Trạm y tế phường T thuộc phường T, quận K, thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng là 01 túi nilon (kích thước 2 x 02cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng. Ngoài ra, còn thu giữ 01 xe môtô Honda Wave, biển kiểm soát 15H1-451.46.
Kết luận giám định số 407/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của Phòng K kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,17 gam, loại: Methamphetamine.
Kết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy, Lê Văn M và Nguyễn Văn T đều dương tính với chất ma tuý Methamphetamine.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn M tại thôn C, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng và Nguyễn Văn T tại thôn A, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn M và Nguyễn Văn T khai nhận phù hợp với nội dung trên. Mục đích M và T cùng cất giấu ma túy để sử dụng. Ngoài ra, Lê Văn M khai nguồn gốc số tiền 300.000 đồng dùng để mua ma túy là do M lao động mà có. Đây là lần đầu M rủ T đi mua ma túy để sử dụng. Nguyễn Văn T khai, nguồn gốc xe mô tô biển kiểm soát 15H1-451.46 là tài sản Thư mượn của chị Lương Thị L1 (sinh năm 1987, trú tại: V, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng). T không nói cho chị L1 biết việc sử dụng xe đi mua ma túy.
Tại Cáo trạng số 96/CT-VKSKA ngày 9/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Lê Văn M và Nguyễn Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo Lê Văn M và Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến gì về bản cáo trạng. Các bị cáo đều nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, và việc truy tố xét xử các bị cáo là đúng pháp luật, không oan.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng.
Sau phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội:
Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn M, Nguyễn Văn T, đề nghị xử phạt:
- Lê Văn M: 24 (Hai mươi tư) đến 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.
- Nguyễn Văn T: 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/04/2024.
Miễn phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo T được miễn án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Nhất trí với tội danh Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết sau để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T: Khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ là thấp, và mục đích bị cáo chỉ để sử dụng cho bản thân vì bị cáo là người nghiện ma tuý, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn thuộc hộ nghèo; Bị cáo T tham gia phạm tội với vai trò thứ yếu, không đáng kể nên mặc dù bị cáo phạm tội nghiêm trọng nhưng đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm của kiểm sát viên và bị cáo T nhất trí với bài bào chữa của trợ giúp viên pháp lý tại phiên toà. Tại phần nói lời sau cùng: Các bị cáo đều nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ân hận về hành vi của mình, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử khoan hồng, cho các bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nội dung:
[2] Về tội danh: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:
Hồi 10 giờ 15 phút ngày 03/04/2024, tại khu vực Trạm y tế phường T, thuộc phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, các bị cáo Lê Văn M và Nguyễn Văn T có hành vi cất giữ trái phép 0,17gam ma tuý loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị cơ quan công an phát hiện bắt giữ. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3]. Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo Lê Văn M và Nguyễn Văn T có hành vi cất giữ trái phép 0,17gam ma tuý loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân nên các bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của nhà nước, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác nên cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về vai trò:
Bị cáo M là người khởi xướng, đề xuất việc đi mua ma tuý về sử dụng và trực tiếp lái xe chở T đi mua ma tuý, trực tiếp giao dịch và bỏ tiền ra mua ma tuý. Bị cáo T tham gia phạm tội với vai trò là người giúp sức cho bị cáo M, cùng với M đi mua ma tuý, sau khi mua được ma tuý dưới sự chỉ đạo của M đã cất giấu ma tuý vào túi quần bên phải để tìm nơi sử dụng nên vai trò của bị cáo M cao hơn vai trò bị cáo T.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[7.1] Về nhân thân:
Bị cáo M có 01 tiền án: Bản án số 05/2017/HSST ngày 13/4/2017 Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đã thi hành xong án phí ngày 16/6/2017, đã bồi thường dân sự sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm ngày 13/4/2017. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 8/02/2018. Căn cứ Điều 70, Điều 73 Bộ luật Hình sự đối với tiền án này của bị cáo M đã được xoá án tích nhưng vẫn coi là bị cáo có nhân thân xấu.
[7.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với 2 bị cáo.
Tại phiên toà, bị cáo T trình bày bị cáo có thời gian tham gia quân đội từ tháng 01/2009 đến tháng 12/2011 nhưng bị cáo không có tài liệu chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận.
Xét bị cáo T tham gia phạm tội với vai trò thấp hơn bị cáo M, nhưng bị cáo là đồng phạm giúp sức cho bị cáo M để thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp phạm tội với vai trò không đáng kể hoặc vai trò thứ yếu, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo T tại phiên toà.
[8] Về hình phạt: Căn cứ nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng trên mức khởi điểm của khung hình phạt tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với 2 bị cáo, và mức hình phạt của bị cáo M cao hơn bị cáo T.
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo T có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên miễn phạt tiền đối với các bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong số 407/MT/PC09 bên trong là ma tuý còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[11] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo T thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[12] Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo M tại khu vực gần nhà máy nước cầu N, quận K, thành phố Hải Phòng. Hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn M, Nguyễn Văn T.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn M, Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
- Lê Văn M: 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.
- Nguyễn Văn T: 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.
Miễn phạt tiền đối với các bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 407/MT/PC09 bên trong là ma tuý còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói
(Đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Lê Văn M phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn T.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Ngà |
Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 91/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có tội
