Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày: 23/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BÀ RỊA,

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Chu Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Đê

2. Ông Lê Văn Công

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hải – Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024; Quyết định tạm đình chỉ số 02/2024/HSST-QĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024; Quyết định phục hồi vụ án số 02/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Tiến Đ, sinh năm 1990 tại thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số H đường Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Sỹ P, sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị Thanh H, sinh năm 1965; Có vợ tên Phạm Hồng N, sinh năm 1993 và 02 (hai) con sinh năm 2012, 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 07/9/2023 đến ngày 27/11/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn thành “Bảo lĩnh”. Ngày 22/4/2024, bị truy nã theo Quyết định truy nã số 537/QĐ-ĐCSHS của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. (Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa).

*Bị hại:

  1. Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1987, địa chỉ: Tổ E, ấp N, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1971, địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian làm công việc môi giới cho vay để được hưởng hoa hồng, Đỗ Tiến Đ đã 02 lần đưa ra thông tin không có thật nhằm chiếm đoạt tiền của chị Nguyễn Thị Thùy T và chị Nguyễn Thị T1, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào ngày 30 tháng 8 năm 2023, Đỗ Tiến Đ sử dụng điện thoại Iphone 6, màu xám, gắn sim số 0369817581 để lên mạng xã hội facebook và sử dụng tài khoản mang tên “Phạm N” tham gia vào nhóm “Vay Tiền nhanh bà rịa vũng tàu”. Khi có người đăng tin cần vay tiền trên nhóm thì Đ sử dụng tài khoản “Phạm N” bình luận vào bản tin của người cần vay với nội dung “xuyên mộc. đông nai ae cầm aloo tôi luôn. co xiên ngay nha. 03566391158. Luôn va ngay bà R” tìm kiếm người có nhu cầu vay vốn, giới thiệu cho người khác cho vay để được hưởng tiền hoa hồng. Lúc này, chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1987; Nơi thường trú: 10 H, khu phố C, phường P, thành phố B, sử dụng tài khoản facebook tên “Hoa Nắng” liên hệ với Đỗ Tiến Đ nhắn tin hỏi cho vay tiền. Sau đó Đ liên hệ với chị T qua mạng xã hội zalo tên “Nam TC” qua số điện thoại 0356.639.xxx để làm thủ tục vay vốn với số tiền từ 10.000.000đ (mười triệu đồng) đến 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Đ nói chị T có xe với giấy chứng nhận đăng ký xe và nhà ở Bà Rịa – Vũng Tàu thì được vay số tiền trên 10.000.000đ (mười triệu đồng). Đ yêu cầu chị T chụp hình phương tiện và giấy chứng nhận đăng ký xe cho Đ kiểm tra, đồng thời yêu cầu chị T gửi vị trí nhà và số điện thoại để Đ đến gặp mặt nói chuyện. Khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, Đ hẹn chị T đi đến quán C tại địa chỉ số B Cách mạng tháng 8, khu phố D, phường P, thành phố B để làm thủ tục vay tiền. Sau đó chị T điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Vision, màu trắng đỏ, biển số 72D1-043.35 đến điểm hẹn. Tại đây, Đ kiểm tra phương tiện và giấy chứng nhận đăng ký xe thì thấy chị T đứng tên chủ sở hữu. Sau đó cả hai đi vào bên trong sân của quán cà phê The M ngồi nói chuyện, chị T yêu cầu được vay số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) nhưng Đ nói do xe cũ nên chỉ vay được khoảng hơn 10.000.000đ (mười triệu đồng). Cả hai tiếp tục nói chuyện thì Đ được biết chị T đã vay 02 (hai) khoản vay của người khác: sử dụng 01 Căn cước công dân vay góp số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) và 01 bằng lái xe vay số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) nên Đ nói không thể cho vay cao được. Chị T vẫn yêu cầu Đ cố gắng cho vay từ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Nhận thấy không thuyết phục được chị T vay số tiền từ 10.000.000đ (mười triệu đồng) đến 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) để được hưởng hoa hồng nên Đ đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của chị T. Lúc này, Đ thấy giấy chứng nhận đăng ký xe và chìa khoá xe của chị T để trên bàn gần bên phía ngồi của Đ nên Đ nói dối chị T “Có gì chị lên chị nói chuyện với sếp em, xong có như thế nào em nói đỡ cho chị. Sếp ngồi ở góc cuối trên tầng hai (ông béo béo)”. Tin tưởng Đ nói là thật, chị T đi lên tầng hai của quán, để lại xe và chìa khóa xe cho Đ. Khi chị T đi lên lầu, Đ liền cầm chìa khoá và giấy chứng nhận đăng ký xe rồi đi ra lấy xe của chị T điều khiển bỏ đi. Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô của chị Trang Đ1 mang đến cửa hàng cầm đồ Hồng P1, ở địa địa chỉ số F P, phường D, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh do anh Phạm Ngọc H1, sinh năm 1979 làm chủ để cầm cố được số tiền 6.000.000đ (sáu triệu đồng). Số tiền cầm cố tài sản Đ1 đã tiêu xài cá nhân hết. Ngay sau đó, Đ1 đã thay đổi tên tài khoản facebook từ “Phạm N” thành “Nam kaa”, đồng thời chặn các liên lạc với tài khoản facebook, zalo “Hoa Nắng” do chị T sử dụng để chị T không liên lạc được với Đ1.

Ngày 07/9/2023, Đỗ Tiến Đ đến cơ quan CSĐT Công an thành phố B đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội như trên và tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại Iphone 6, màu xám. (BL: 150, 151).

Tại Kết luận định giá số 190/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B xác định: xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu đỏ - bạc – đen, số khung: 3309CY007969, số máy: F33E 0008051, biển số 72D1 – 043.35 có giá trị 8.333.000đ (tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng). (BL: 45, 46).

- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu phone 6, màu xám, số IMEI: 35576707701063, bên trong gắn sim số 0369817581 Đỗ Tiến Đ giao nộp khi đầu thú.

+ 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu đỏ - bạc – đen, số khung: 3309CY007969, số máy: F33E 0008051, biển số 72D1 – 043.35 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004856 của xe mô tô biển số 72D1 – 043.35 do anh Phạm Ngọc H1 giao nộp. Quá trình điều tra xác định chị T là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên nên ngày 13 tháng 9 năm 2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chị Nguyễn Thị Thùy T chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu đỏ - bạc – đen, biển số 72D1 – 043.35 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa ra Quyết định chuyển vật chứng hiện còn tạm giữ đến chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa bảo quản, chờ xử lý.

- Về trách nhiệm dân sự: sau khi nhận lại tài sản, chị Trần Thị Thùy T2 không yêu cầu gì thêm.

Đối với anh Phạm Ngọc H1, người cầm cố chiếc xe của Đỗ Tiến Đ đã được chị Phạm Hồng N là vợ bị can Đ bồi thường số tiền 6.000.000 đồng. Anh H1 không có yêu cầu gì thêm. Chị N cũng không có yêu cầu gì đối với số tiền đã bỏ ra khắc phục hậu quả cho Đ.

Vụ thứ hai: Do có quen biết từ trước, vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 05 tháng 9 năm 2023, Đỗ Tiến Đ gọi điện thoại cho bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1971, Trú tại: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, hỏi có muốn vay tiền thì đưa xe và giấy đăng ký xe ra khu vực ấp P, xã P, huyện L gặp Đ để làm thủ tục vay, bà T1 đồng ý. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, bà T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha loại Jupiter, biển số: 72K1-16057 của con trai bà là Phạm Dũng T3 ra điểm hẹn gặp Đ. Tại đây, bà T1 đưa giấy đăng ký xe và xe mô tô cho Đ để kiểm tra. Sau khi kiểm tra thì Đ cho biết giá trị chiếc xe của bà T1 chỉ vay được 10.000.000đ (mười triệu đồng), nhưng bà T1 muốn vay số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Biết việc tư vấn cho vay không thành để có thể nhận được tiền hoa hồng từ người cho vay nên Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô trên của bà T1. Đ nói bà T1 đi vào hẻm nhỏ gần đó gặp cấp trên của Đ để thương lượng việc vay tiền. Bà T1 cũng tin tưởng và để lại xe cùng chìa khóa xe cho Đ. Khi bà T1 đi vào hẻm được khoảng 50 mét thì Đ lên xe điều khiển bỏ đi theo hướng cầu C qua thành phố V rồi tiếp tục điều khiển xe đến quận H, thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 06 tháng 9 năm 2023, Đ điều khiển xe để về lại thành phố V. Khi về đến khu vực huyện N, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông huyện N, tỉnh Đồng Nai kiểm tra, phát hiện vi phạm giao thông và tạm giữ xe Jupiter, biển số: 72K1-16057 do Đ điều khiển.

Tại Kết luận định giá số 84/KL-HĐĐGTS ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện L xác định: 01 (một) chiếc xe mô tô BKS: 72K1-160.57, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Jupiter, màu đỏ-đen, số khung: RLCJ1PB301CY011085, số máy: 1PB3011066 có giá trị là 8.660.000đ (tám triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). (BL: 211, 212).

- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 72K1-160.57, số khung: RLCJ1PB301CY011085, số máy: 1PB3011066. Sau khi Đỗ Tiến Đ chiếm đoạt được của chị Nguyễn Thị T1 đã điều khiển qua địa phận huyện N, tỉnh Đồng Nai thì vi phạm luật giao thông đường bộ nên đã bị lực lượng tuần tra tạm giữ phương tiện. Qua xác minh được biết xe mô tô trên của anh Phạm Dũng T3 (Sinh năm: 1989, HKTT: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu) là chủ tài sản. Ngày 05 tháng 9 năm 2023, bà T1 là mẹ của anh T3 đã mượn xe mô tô để đến gặp Đ, sau đó đã bị Đ chiếm đoạt. Ngày 07 tháng 11 năm 2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho chủ sở hữu là anh Phạm Dũng T3.

+ Đối với 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 72K1-160.57, số khung: RLCJ1PB301CY011085, số máy: 1PB3011066 sau khi chiếm đoạt được tài sản, trong quá trình di chuyển từ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến thành phố Hồ Chí Minh, Đỗ Tiến Đ đã làm thất lạc. Ngày 31 tháng 10 năm 2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra Quyết định truy tìm vật số 39/QĐTT – ĐCSHS đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô trên. Khi nào truy tìm được sẽ xử lý sau.

- Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, anh Phạm Dũng T3 và bà Nguyễn Thị T1 không có yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số 07/CT-VKSBR ngày 21/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố bị cáo Đỗ Tiến Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Tiến Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 đã thu giữ do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của bị cáo và người tham gia tố tụng:

[2.1] Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo Đỗ Tiến Đ bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Tòa án đã có quyết định bắt và tạm giam bị cáo nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xác định không thể thực hiện được do bị cáo đã bỏ trốn. Tại phiên tòa ngày 19/3/2024, bị cáo Đỗ Tiến Đ vắng mặt, Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B truy nã bị cáo. Ngày 22/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ban hành Quyết định truy nã số 537/QĐ-ĐCSHS, truy nã bị cáo Đỗ Tiến Đ. Ngày 30/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B có Văn bản số 636/ĐCSHS, xác định chưa xác minh, truy bắt được bị cáo Đỗ Tiến Đ. Đã qua thời hạn 30 ngày kể từ ngày có quyết định truy nã nhưng không có kết quả, căn cứ Điều 390 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Đỗ Tiến Đ.

[2.2] Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra; Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Đỗ Tiến Đ là người làm công việc môi giới cho vay để được hưởng hoa hồng. Lợi dụng nhu cầu vay tiền của các bị hại, Đỗ Tiến Đ hẹn các bị hại đến gặp trực tiếp và đưa thông tin gian dối là có “sếp” (tức người có thẩm quyền phê duyệt khoản vay) đi cùng, yêu cầu bị hại đến gặp trực tiếp “sếp” để thương lượng việc vay tiền, Đ sẽ giúp đỡ các bị hại thuyết phục thêm để các bị hại tin tưởng để lại xe và giấy tờ xe cho Đ nhằm chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Với cách thức, thủ đoạn như trên, trong khoảng thời gian từ ngày 30/8/2029 đến ngày 05/9/2023, Đỗ Tiến Đ đã thực hiện liên tiếp 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại địa bàn thành phố Bhuyện L, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 30/8/2023, tại quán C ở địa chỉ số B C, khu phố D, phường P, thành phố B, Đỗ Tiến Đ đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối để chị Nguyễn Thị Thùy T đi lên lầu gặp cấp trên của Đ trao đổi về việc vay tiền, ngay sau đó Đ đã chiếm đoạt của chị T chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu đỏ - bạc – đen, biển số 72D1 – 043.35 trị giá 8.333.000đ (tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 05 tháng 9 năm 2023, tại khu vực ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đỗ Tiến Đ đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối để bà Nguyễn Thị T1 đi vào trong hẻm gặp cấp trên của Đ trao đổi về việc vay tiền, ngay sau đó Đ đã chiếm đoạt của bà T1 chiếc xe mô tô BKS: 72K1-160.57, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Jupiter, màu đỏ-đen, trị giá 8.660.000đ (tám triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến các quy định về quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo không chỉ gây thiệt hại về tài sản cho công dân mà còn gây mất an ninh trật tự địa phương, gây hoang mang dư luận quần chúng. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.2] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại, bị cáo đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, mặc dù tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo nhưng trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo bỏ trốn và bị truy nã, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật và thái độ tôn trọng pháp luật của bị cáo còn chưa tốt, chưa thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo. Do đó, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa về việc không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) Điện thoại di động hiệu Iphone 6 đã thu của bị cáo, do không có liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Tiến Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Áp dụng Khoản 1 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Đ 20 (hai mươi) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án (có khấu trừ thời hạn tạm giam từ 07/9/2023 đến ngày 27/11/2023)

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    - Trả lại cho bị cáo 01 (một) ĐTDĐ hiệu Iphone màu xám, số IMEI 35576707701063.

    Thực hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 30 ngày 25/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT (PV06, PC10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - Công an thành phố Bà Rịa;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lừa lấy xe máy bán kiếm tiền, bỏ trốn, truy nã, xét xử vắng mặt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger