Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày 23-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lù Văn Mẳn và bà Quàng Thị Hỏa.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn T, sinh ngày 07/8/1993, tại C, thành phố S, Sơn La;

Nơi ĐKHKTT: Bản C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Lường Văn Đ, sinh năm 1970 và con bà Lò Thị H, sinh năm 1974; Có vợ là Lò Thị T1, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Có 04 tiền án: Ngày 29/3/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mường La xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 13/3/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 28/11/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 24 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 29/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xử phạt 36 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bị hại: Anh Trương Cao Q. Sinh năm 1986. Địa chỉ: Tiểu khu A, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lường Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Ngày 29/01/2024 Lường Văn T vào nhà Đỗ Văn T2, trú tại bản Ta Mo, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La (là bạn T) để chơi và ngủ lại qua đêm. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30/01/2024 T đi bộ từ nhà T2 ra đường Q, đi được khoảng 20m Trường thấy 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HABUBIKE đang dựng trong sân nhà lán giữa vườn táo, thấy không có ai trông coi Lường Văn T nảy sinh ý định mang bán lấy tiền tiêu xài. Lường Văn T đến gần thấy chìa khóa vẫn cắm ở xe nên đã lén lút dắt xe ra đường rồi điều khiển xe đi tìm nơi tiêu thụ. Khi Lường Văn T vừa điều khiển xe đi thì anh Trương Cao Q là chủ xe phát hiện và gọi điện báo Công an xã M tổ chức truy đuổi. Lường Văn T điều khiển xe đi đến bản N, xã M thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HABUBIKE màu đỏ đen, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng.

Ngày 31/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ban hành yêu cầu định giá tài sản số 224 đối với 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HABUBIKE màu đỏ đen, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng.

Tại kết luận định giá tài sản số 04 ngày 01/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện M kết luận: 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HABUBIKE màu đỏ đen, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng có trị giá 3.000.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì, nhất trí với kết luận của Hội đồng định giá.

Tại Bản cáo trạng số 56/CT-VKSML ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Lường Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lường Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Lường Văn T từ 42 tháng đến 48 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã trả lại bị hại Trương Cao Q: 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HABUBIKE màu đỏ đen, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại Trương Cao Q, không yêu cầu bị cáo Lường Văn T bồi thường, đề nghị chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lường Văn T nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.

Người bị hại không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lường Văn T thừa nhận: Ngày 30/01/2024 Lường Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HABUBIKE màu đỏ đen, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng có trị giá 3.000.000 đồng của Trương Cao Q, trú tại tiểu khu A, xã M, huyện M.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định vật chứng của vụ án, lời khai của người chứng kiến, đơn trình báo, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản sự việc, kết luận định giá tài sản.

Bị cáo đã 04 lần bị kết án: Ngày 29/3/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mường La xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 13/3/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 28/11/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 24 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 29/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xử phạt 36 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành án xong ngày 15/01/2023; Do đó theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự “Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý”, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lường Văn T đã thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, nhưng do nghiện ma túy, lười lao động, hám lời bất chính nên bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Bị cáo đã bị kết án 04 lần đều về tội Trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không hối hận, tu tâm sửa tính, làm ăn lương thiện mà vẫn tiếp tục con đường phạm tội. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương, gây bất bình, hoang mang trong quần chúng.

[3] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Toà cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo.

[4] Về hình phạt

Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HABUBIKE màu đỏ đen, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng. Ngày 01/02/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Cao Q là đúng quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cần chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Trương Cao Q không yêu cầu bị cáo bồi thường. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là ý kiến tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: bị cáo Lường Văn T, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Lường Văn T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/01/2024).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã hoàn trả cho người bị hại Trương Cao Q: 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HABUBIKE màu đỏ đen, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 357, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự: Chấp nhận việc người bị hại Trương Cao Q không yêu cầu bị cáo bồi thường.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 23/5/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Công an huyện Mường La;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Trại giam CA tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Chi cục THADS huyện Mường La;
  • - THA hình sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Lê Thị Thu Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 91 ngày 23.5.2024 Lường Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger