|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 91/2024/HS- ST Ngày: 22 - 8 - 2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguỵ Thế Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nông Thị Thuỳ Trang – Giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú THCS huyện Ea H'leo.
2. Ông Nguyễn Khắc Vũ – Nguyên là giáo viên trường cấp II + III Ea H'leo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H'leo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo tham gia phiên toà: Ông Phan Đình Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại Phòng xử án Toà án nhân dân huyện Ea H'leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/TLST-HS, ngày 24 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Rcăm Y H, sinh ngày 13/5/2007 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Buôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn 07/12; dân tộc: Gia Rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nay Y B, sinh năm 1964 và con bà Rcăm H1, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện E từ ngày 10/4/2024. Sau đó, chuyển sang tạm giam từ ngày 17/4/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Y L Niê, sinh năm 1993 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Buôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn 0/12; dân tộc: Ê đê; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Y N Blô, sinh năm 1973 và con bà H L Niê, sinh năm 1973; bị cáo có vợ là Rcăm H M, sinh năm 1996; có 02 người con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện E từ ngày 10/4/2024. Sau đó, chuyển sang tạm giam từ ngày 17/4/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Rcăm Y H: Ông Nay Y B, sinh năm 1964 là bố của bị cáo. Trú tại: Buôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Rcăm Y H: Ông Nguyễn Hữu H3, sinh năm 1970 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ; địa chỉ: Số C L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
1
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Lê Chí B2, sinh năm 1998; trú tại: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
+ Anh Adrơng Y T, sinh năm 2004; trú tại: Buôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
+ Anh Nay Y H4, sinh năm 1996; trú tại: Buôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
+ Anh Rcăm Y N2, sinh năm 1998; trú tại: Buôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
+ Chị Rcăm H M, sinh năm 1996; trú tại: Buôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
- Người chứng kiến: Anh Lê Thành L, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 09/4/2024, RCăm Y H (sinh ngày 13/5/2007, trú tại: Buôn D, xã E, huyện E) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 47D1-314.85 đi từ nhà đến khu vực đường tránh thị trấn E, huyện E gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 400.000 đồng tiền ma túy thì người này đồng ý bán cho Y H 01 gói nhựa màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, là ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, Y H đi về nhà tại buôn D, xã E chuẩn bị 01 ống thủy tinh hình trụ tròn, một đầu hình cầu và 01 bật lửa, rồi mang theo đến nhà Lê Chí B2 (sinh năm 1998, trú tại: Thôn B, xã E, huyện E) rủ B2 đến nhà Y L N (sinh năm 1993, trú tại: Buôn D, xã E) để cùng nhau sử dụng ma túy thì B2 đồng ý. Sau đó, Y H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47D1-314.85 chở B2 đến nhà Y L1. Tại đây, Y H rủ Y L1, B2 sử dụng ma túy thì tất cả đồng ý, Y L lấy ra 01 chai nhựa màu trắng có nắp chai màu vàng, trên nắp chai đục sẵn 02 lỗ, một lỗ cắm ống hút nhựa màu xanh – trắng; Y H lấy ra 01 ống thủy tinh dạng trụ tròn, có một đầu hình cầu mang theo rồi cắm vào lỗ còn lại trên nắp chai nhựa. Khi Y H, Y L1 đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì có Nay Y H5 (sinh năm 1996); Adrơng Y T (sinh năm 2004, cùng trú tại: Buôn D, xã E, huyện E) đến chơi; thấy Y L1, đang chuẩn bị sử dụng ma túy nên Nay Y H, Adrơng Y T xin sử dụng cùng thì Y L1 đồng ý. Sau đó, Y H lấy ra 01 gói nhựa màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, là ma túy đá, đổ khoảng 1/2 số ma túy trong gói nhựa vào đầu hình cầu trên ống thủy tinh rồi đưa cho Y L1 dùng bật lửa đốt ở phía dưới và hút khói vào miệng qua ống nhựa màu xanh - trắng; sau khi Y L1 sử dụng xong thì lần lượt Y H, Lê Chí B2, Adrơng Y, Nay Y H tự dùng bật lửa đốt và sử dụng; tiếp đó, Y L1, Y H, Lê Chí B2, Adrơng Y, Nay Y H sử dụng ma túy lượt thứ hai. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, khi Y L1, Y H, Lê Chí B2, Adrơng Y T và Nay Y H chuẩn bị sử dụng ma túy lần thứ ba
2
thì Công an huyện E đến kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với RCăm Y H và Y L N về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và niêm phong số ma túy còn lại cùng vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 568/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: “Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) gói nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định là Ma túy, có khối lượng là 0,0425 gam, loại: Methamphetamine.
Tại Bản Cáo trạng số: 83/CT-VKS-HS, ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo truy tố để xét xử đối với bị cáo Rcăm Y H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Y L N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo các điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Rcăm Y H2 và Y L N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng các điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Rcăm Y H2 từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (Ngày 10/4/2024).
Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Y L N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (Ngày 10/4/2024).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu vàng được đục 02 lỗ; 01 ống thủy tinh dạng trụ tròn, có một đầu hình cầu; 01 ống hút nhựa màu xanh-trắng; 01 bật lửa, là công cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi chữ “Bao gói niêm phong ban đầu vụ Y L N – E” có các chữ ký ghi tên: Mai Hùng D, Nguyễn Bá H6 và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng K - Công an tỉnh Đắk Lắk là vật chứng không còn giá trị sử dụng.
Đối với số ma tuý thu giữ đã sử dụng để giám định hết nên không đề cập xem xét.
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 47D1-314.85 cho anh Y N2 là chủ sở hữu hợp pháp.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Rcăm Y H là ông Nguyễn Hữu H3 trình bày quan điểm: Thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh truy tố. Tuy nhiên, trong vụ án này cũng cần xem xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo tuổi đời còn quá trẻ, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, là người dân tộc thiểu số nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên
3
tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đã được chính quyền địa phương xác nhận nên ông H3 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất hoặc thấp hơn so với mức đề nghị của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố và cũng không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Các bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để bị cáo sớm trở về hoà nhập với cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được Cơ quan điều tra thu thập lưu tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 21 giờ 45 phút ngày 09/4/2024, tại nhà của Y L N ở buôn D, xã E, huyện E; RCăm Y H (sinh ngày 13/5/2007) và Y L N đang có hành vi tổ chức cho Lê Chí B2, Adrơng Y T và Nay Y H sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an huyện E phát hiện bắt quả tang, thu giữ số ma túy còn lại là 0,0425 gam, loại Methamphetamine.
Hành vi của R Y H đi mua ma tuý và chuẩn bị ống thủy tinh, bật lửa cho bị cáo Y L N và các đối tượng Lê Chí B2, Adrơng Y, Nay Y H’Lôm sử dụng ma tuý đã phạm vào tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo Y L N chuẩn bị địa điểm, chai nhựa màu trắng có nắp chai màu vàng, trên nắp chai đục sẵn 02 lỗ, một lỗ cắm ống hút nhựa màu xanh – trắng cho bị cáo Rcăm Y H2 (chưa đủ 18 tuổi) và các đối tượng Lê Chí B2, Adrơng Y, Nay Y H sử dụng ma tuý đã phạm vào tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo truy tố đối với bị cáo Rcăm Y H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Y L N về tội “Tổ chức sử dụng
4
trái phép chất ma túy” theo các điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 đến 15 năm:
b) Đối với hai người trở lên;
c) Đối với người từ đủ 13 đến dưới 18 tuổi;
Xét thấy, hành vi tội phạm do các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an địa phương. Chất ma túy là chất gây nghiện, có tính chất kích thích thần kinh, có tác hại lớn không chỉ đến sức khỏe mà nó còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, cần xác định vai trò của các bị cáo như sau:
Đối với bị cáo Y L N là người chuẩn bị địa điểm, công cụ cho bị cáo Rcăm Y H2 (chưa đủ 18 tuổi) và các đối tượng Lê Chí B2, Adrơng Y, Nay Y H sử dụng ma tuý nên bị cáo Y L N phải chịu 02 tình tiết định khung hình phạt “Đối với hai người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 đến dưới 18 tuổi” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm hơn so với bị cáo R Y H thì mới đủ tác dụng trừng trị, răn đe giáo dục đối với bị cáo.
Đối với bị cáo Rcăm Y H2 thực hiện hành vi phạm tội một cách tích cực, giữ vai trò chính, là người đi mua ma tuý và chuẩn bị công cụ và rủ rê bị cáo Y L N và cho các đối tượng Lê Chí B2, Adrơng Y, Nay Y H sử dụng ma tuý. Vì vậy cần xem xét áp dụng đối với bị cáo hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội nhằm tác dụng trừng trị, răn đe đối với bị cáo. Tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi) nên bị cáo được áp dụng chính sách pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.
5
Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định mới có thể cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Chí B2, Adrơng Y T và Nay Y H5, Công an huyện E đã chuyển hồ sơ đến Công an xã E, huyện E để lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ cân chấp nhận.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho RCăm Y H, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với căn nhà thuộc quyền sở hữu của chị R H M là địa điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Việc các bị cáo sử dụng làm địa điểm phạm tội, chị Rcăm H M không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E không đề cập xử lý đối với căn nhà là có căn cứ.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu vàng được đục 02 lỗ; 01 ống thủy tinh dạng trụ tròn, có một đầu hình cầu; 01 ống hút nhựa màu xanh-trắng; 01 bật lửa, là công cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi chữ “Bao gói niêm phong ban đầu vụ Y L N – E” có các chữ ký ghi tên: Mai Hùng D, Nguyễn Bá H6 và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng K - Công an tỉnh Đắk Lắk là vật chứng không còn giá trị sử dụng.
Đối với số ma tuý thu giữ đã sử dụng để giám định hết nên HĐXX không đề cập xem xét.
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 47D1-314.85 cho anh Y N2 là chủ sở hữu hợp pháp.
[5] Về án phí: Cần buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Rcăm Y H2 và Y L N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo R Y H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (Ngày 10/4/2024);
Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Y L N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (Ngày 10/4/2024);
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
6
Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu vàng được đục 02 lỗ; 01 ống thủy tinh dạng trụ tròn, có một đầu hình cầu; 01 ống hút nhựa màu xanh-trắng; 01 bật lửa, là công cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi chữ “Bao gói niêm phong ban đầu vụ Y L N – E” có các chữ ký ghi tên: Mai Hùng D, Nguyễn Bá H6 và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng K - Công an tỉnh Đ là vật chứng không còn giá trị sử dụng.
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 47D1-314.85 cho anh Y N2 là chủ sở hữu hợp pháp.
(Đặc điểm các vật chứng được mô tả tại biên bản giao, nhận vật chứng lưu tại hồ sơ vụ án)
Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Rcăm Y H2 và Y L N mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguỵ Thế Xuân |
7
Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐĂK LĂK về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 91/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐĂK LĂK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào lúc 21 giờ 45 phút ngày 09/4/2024, tại nhà của Y L N ở buôn D, xã E, huyện E; RCăm Y H (sinh ngày 13/5/2007) và Y L N đang có hành vi tổ chức cho Lê Chí B2, Adrơng Y T và Nay Y H sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an huyện E phát hiện bắt quả tang, thu giữ số ma túy còn lại là 0,0425 gam, loại Methamphetamine.
