Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày: 22-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Anh Tuấn

2. Bà Trịnh Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 03 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Xuân T, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1982; tại: Tỉnh Nam Định; Nơi thường trú và nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân O và bà Trần Thị T1; chưa có vợ, con. Tiền án: Bản án số 60/HSPT ngày 16-10-2003 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phúc thẩm phạt Bùi Xuân T 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 06-01-2005); Bản án số 58/2005/PTHS ngày 13-6-2005 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phúc thẩm phạt Bùi Xuân T 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 04-7-2007); Bản án số 13/2008/HSPT ngày 15-02-2008 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phúc thẩm phạt Bùi Xuân T 7 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 25-4-2014); Bản án số 361/2014/HSST ngày 18-11-2014 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt Bùi Xuân T 3 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 01-02-2018); Bản án số 99/2018/HS-ST ngày 09-8-2018 Tòa án nhân dân thành phố Phú Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt Bùi Xuân T 4 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 07-10-2022). Tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 86/HSST ngày 08-5-2000 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt Bùi Xuân T 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản công dân”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-12-2023, chuyển tạm giam ngày 26-12-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N, tỉnh Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông Dương Xuân G và Hoàng Thị L (không triệu tập đến phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 17-12-2023, tổ công tác Công an phường C, tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà A đường Đ, phường C, thành phố N, phát hiện Bùi Xuân T đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 90F6-1296 chở chị Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1986; trú tại: 4 Đ, phường C, thành phố N có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ dưới yên xe máy của T 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai là H mua về để sử dụng). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, mời người làm chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Xuân T theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu FANLIM màu xanh, biển kiểm soát 90F6-1296; 01 chiếc điện thoại di động N màu đen (đều đã cũ).

Bản kết luận giám định số 21/KL - KTHS ngày 22-12-2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu: 0,136 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Xuân T khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 17-12-2023, T điều khiển xe máy biển kiểm soát 90F6-1296 chở chị T2 từ nhà đến khu vực chợ Đ, phường T, thành phố N để mua quần áo. Sau đó T chở chị T2 đến khu vực ngõ A đường Đ, phường C, thành phố N để mua ma túy sử dụng (chị T2 không biết T đi mua ma túy sử dụng). Đến nơi, T bảo chị T2 xuống xe đứng đợi, T đi xe máy vào trong ngõ, gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. T cất gói ma túy vào dưới yên xe máy sau đó chở chị T2 đi về thì bị phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 68/CT-VKSND-TPNĐ ngày 14-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Bùi Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Xuân T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Bùi Xuân T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T từ 05 năm 09 tháng tù đến 06 năm 03 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo Bùi Xuân T nói lời sau cùng: Bị cao xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Xuân T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Xuân T trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 17-12-2023; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu ngày 17-12-2023; Bản kết luận giám định số 21/KL - KTHS ngày 22-12-2023 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 10 giờ ngày 17-12-2023, tại khu vực trước cửa số nhà A đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định Bùi Xuân T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,136 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Bùi Xuân T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,136 gam nên bị cáo Bùi Xuân T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, bị cáo đã có 05 tiền án chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Xuân T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Bùi Xuân T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Xuân T là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Bùi Xuân T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo Bùi Xuân T là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động N màu đen thu giữ của bị cáo, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với đối tượng bán ma túy cho Bùi Xuân T, tài liệu chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu FANLIM màu xanh biển kiểm soát 90F6-1296 thu giữ của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã hành xác minh, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên đã trả cho chủ sở hữu là chị Trần Thị T1 (mẹ đẻ của bị cáo) là đúng quy định pháp luật.

[8] Về án phí:

Bị cáo Bùi Xuân T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    • - Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    • Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T 05 năm 09 tháng tù (năm năm chín tháng tù).

    • Thời hạn tù tính từ ngày 17-12-2023.

  2. Xử lý vật chứng:

    • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

    • - Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 21/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.

    Trả lại cho bị cáo Bùi Xuân T chiếc điện thoại di động N màu đen (đã cũ) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25-3-2024)

  3. Án phí:

    • - Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    • - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    • Bị cáo Bùi Xuân T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Bùi Xuân T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Bùi Xuân T có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Nam Định;

- VKSND TP. Nam Định (02 bản);

- Công an TP. Nam Định;

- Chi cục THADS TP. Nam Định;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Thu Định

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Xuân T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger