[Mẫu số 52-DS]
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2023/DS-ST
Ngày 21-8-2023
V/v: “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất, đòi trả lại quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Minh Tấn;
Bà Nguyễn Thị Bích Hiển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Hồng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 03 và ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2022/TLST-DS, ngày 24 tháng 02 năm 2022 về việc: “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất, đòi trả lại quyền sử dụng đất”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2023/QĐXX-DS, ngày 09 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn M, sinh năm 1953; nơi cư trú: thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Trung K, sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Văn M: Ông Nguyễn Ngọc Quốc L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh B; Địa chỉ: GT, TP., tỉnh Bình Định.
2. Bị đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1948; ông Đoàn Văn N, sinh năm 1966; ông Lê Văn N1, sinh năm 1971; nơi cư trú: thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1954; nơi cư trú: thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
- Bà Trần Thị D, sinh năm 1979; bà Trần Thị K1, sinh năm 1989; nơi cư trú: 110 B, P.13, Q.6, TP. Hồ Chí Minh.
- Bà Trần Thị Hoa L2, sinh năm 1987; nơi cư trú: D đường K, ấp D, xã L, huyện B, TP ..
- Bà Trần Thị O, sinh năm 1976; nơi cư trú: tổ A, KP. 3, P. G, TP., tỉnh Bình Định.
- Ông Trần Trung K, sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
- Bà Lê Thị N2 (vợ ông N); nơi cư trú: thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
- Ủy ban nhân dân xã Â;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Công K2 - Chủ tịch UBND;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Ngọc Q - P. Chủ tịch UBND;
Địa chỉ trụ sở: thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Ủy ban nhân dân huyện H;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu K3 - Chủ tịch UBND;
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Huỳnh Văn V- P.Chánh Văn phòng HĐND và UBND huyện H;
Địa chỉ trụ sở: 04 L, TT. T, huyện H, tỉnh Bình Định.
Đại diện của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có mặt; Đại diện UBND xã Â có mặt.
Các bị đơn: Lê Văn N1, Lê Văn Đ, Đoàn Văn N: Vắng mặt (lần 02).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Trung K có mặt; Lê Thị N2 vắng mặt. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn, đại diện của nguyên đơn; người bảo vệ quyền và ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ông Trần Văn M có đơn xin giao cấp đất lâm nghiệp ngày 03/11/1997 gửi cho Hạt Kiểm lâm huyện H. Ông Trần Văn M được UBND huyện H giao đất để sản xuất kinh doanh lâm nghiệp theo Quyết định số: 658/QĐ-UB ngày 07/12/1998 tên Trần Văn M tại tiểu khu F (Đ), diện tích 70.190m², có biên bản giao đất ngày 09/12/1998, thời điểm đó là xã Â. Lúc UBND huyện Hoài Ân giao đất rừng sản xuất thì gia đình ông M gồm: Ông Trần Văn M, vợ Phạm Thị L1 ở V, xã Â (nay là Ân Hảo T). Các con: Trần Thị O, Trần Thị Thanh D1, Trần Trung K, Trần Thị Hoa L2, Trần Thị Kim K4.
Năm 1998, ông M tiến hành trồng Bạch Đàn, cây Điều toàn bộ trên diện tích đất được giao, sau khi khai thác xong Bạch Đàn, còn Điều thì giá trị không lớn nên chuyển sang trồng cây keo lai từ năm (2011-2012) cho đến năm 2020 đã khai thác 01 đợt chưa hết, năm 2021 tiếp tục khai thác đợt 02 thì các bị đơn đến trồng cây keo và tranh chấp, lấn chiếm đất trái pháp luật. Gia đình ông M đã có đơn yêu cầu UBND xã Â Tây giải quyết, đã nhiều lần xã mời đến nhưng họ đến không đầy đủ, không hòa giải được nên UBND xã Â hướng dẫn ông M khởi kiện đến Tòa án. Trong số người đó có ông Lê Văn N1 nói là đất rẫy ông N1 mua của người khác, nhưng không có bằng chứng. Ông Đoàn Văn N thì nói rẫy cũ của cha ông N, ông Nguyễn T (con là Nguyễn Văn C), ông Lê Văn Đ, ông Phạm Minh T1 đều nói rẫy đất cũ của ông bà nên lấy lại làm. Tại Tòa án, anh Trần Trung K đại diện theo ủy quyền của Trần Văn M: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc các bị đơn chấm dứt hành vi lấn chiếm đất rừng sản xuất tại tiểu khu F (Đ) thuộc V, Ân Hảo T đã giao cho Trần Văn M. Buộc các bị đơn (Lê Văn N1, Lê Văn Đ, Đoàn Văn N) phải dọn cây keo lai mới trồng trả lại đất cho ông M. Anh K đồng ý với kết quả đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản của Toà án.
- Bị đơn Lê Văn N1, Lê Văn Đ, Đoàn Văn N trình bày như sau:
+ Ông Lê Văn N1 trình bày: Nguyên vùng đất rẫy mà ông M kiện ông N1 là của cha mẹ ông N1 khai hoang trồng cây từ năm 1998, ông N1 trồng cây Điều, cây Mít với diện tích khoảng trên 01 ha. Do kinh tế khó khăn nên tôi ông N1 vào S làm ăn thì ông M ở nhà chặt Điều của ông N1 để trồng cây keo lai. Khi ông N1 hỏi thì ông M nói để khai thác trả lại đất, nhưng không trả. Khi UBND xã Â mời đến giải quyết thì ông M vắng mặt, né tránh và ủy quyền cho con trai Trần Trung K tham gia, ông N1 có nghe nói ông M được cấp sổ lâm bạ về vùng đất đó, nhưng không thấy ông M đưa giấy tờ gì cả. Nay ông M kiện ông N1 có ý kiến là: Do không có đất nên yêu cầu được canh tác phần diện tích cũ của ông N1.
+ Ông Lê Văn Đ trình bày: Nguyên vùng đất rẫy mà ông M kiện ông Đ là do ông Đ khai khoang trồng cây Mì, cây C1, cây M1 từ năm 1998 với diện tích khoảng trên 01 ha. Do kinh tế khó khăn nên ông Đ làm đi làm ăn nơi khác, ông M ở nhà chặt Điều của ông Đ để trồng cây keo lai. Khi ông Đ hỏi thì ông M nói để khai thác trả lại đất, nhưng không trả, ông M còn hỏi mua của ông Đ nhưng ông Đ không bán. Khi UBND xã Â mời đến giải quyết thì ông M vắng mặt, né tránh và ủy quyền cho con trai Trần Trung K tham gia, ông Đ có nghe nói ông M được cấp sổ lâm bạ về vùng đất đó, nhưng không thấy ông M đưa giấy tờ gì cả. Nay ông M kiện ông Đ có ý kiến là: Do không có đất nên yêu cầu được canh tác phần diện tích cũ của ông Đ.
+ Ông Đoàn Văn N trình bày: Nguyên vùng đất rẫy mà ông M kiện ông N là của ông N khai hoang trồng cây từ năm 1998, ông N trồng cây Điều, cây Chuối với diện tích khoảng trên 01 ha. Do kinh tế khó khăn nên ông N vào S làm ăn thì ông M ở nhà chặt Điều của ông N để trồng cây keo lai. Khi ông N hỏi thì ông M nói để khai thác trả lại đất, nhưng không trả, ông M còn hỏi ông N mua giá 3.000.000 đồng, nhưng ông N không bán. Khi UBND xã Â mời đến giải quyết thì ông M vắng mặt, né tránh và ủy quyền cho con trai Trần Trung K tham gia, ông N có nghe nói ông M được cấp sổ lâm bạ về vùng đất đó, nhưng không thấy ông M đưa giấy tờ gì cả. Nay ông M kiện, ông N có ý kiến là: Do không có đất nên yêu cầu được canh tác phần diện tích cũ của ông N.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Phạm Thị L1, Trần Thị D1, Trần Thị K4, Trần Thị Hoa L2, Trần Thị O: Không có ý kiến gì, có đơn xin vắng mặt. Bà Lê Thị N2 (vợ ông N) vắng mặt, không có bản khai.
+ Đại diện Ủy ban nhân dân xã Â trình bày: Đồng ý với kết quả kiểm tra đo đạc đất; kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản của Toà án.
Về nguồn gốc đất: Là đất trống, đồi núi trọc, dân có trồng cây cải thiện đời sống rồi bỏ hoang, không sử dụng đã lâu. Ông Trần Văn M đăng ký và được UBND xã Â khảo sát, thông báo rộng rãi đúng quy trình, thủ tục. Nay ông Trần Văn M đã được UBND huyện H cấp giao đất trồng rừng sản xuất là đúng pháp luật.
Về diện tích ông M được cấp là 70.019m², kết quả đo đạc ngày 27 tháng 4 năm 2022 là 85.350m², hiện trạng vượt 15.160m². Tuy nhiên về giới cận của các thửa đối với khoảnh 4, tờ bản đồ số 68 cấp cho ông Trần Văn M thì diện tích vượt vẫn nằm trong sơ đồ cấp. Như vậy diện tích thực tế vượt so với diện tích cấp là do sai số trong quá trình đo đạc cấp nên tiếp tục giao cho ông Trần Văn M sử dụng.
Về diện tích cụ thể của từng người (Lê Văn N1, Lê Văn Đ, Đoàn Văn N, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị N3) thì: Khi các bên tranh chấp, UBND xã Â có đến hiện trường kiểm tra, đo đạc diện tích chung, lập biên bản ngày 08 tháng 11 năm 2021, đã ghi là 14.370m², mật độ trồng 1,2m x 1,5m tương ứng với 7.983 cây (có sơ đồ kèm theo), có phần tiếp giáp phía Bắc với đất lâm nghiệp của Nguyễn Thị H ở V, Từ Văn B ở V có ranh mốc cụ thể, nhưng vẫn nằm trong phần giao cấp cho Trần Văn M, các bên không tranh chấp ranh giới liền kề. Do các bị đơn không chỉ cụ thể từng diện tích riêng nên không xác định được diện tích cụ thể của từng người.
Về số lượng cây thì xác định được của từng người trồng, họ chỉ đếm và có ghi tại biên bản hoà giải của xã ngày 24 tháng 12 năm 2021 và Báo Cáo kết quả xác minh ngày 15 tháng 12 năm 2021. Cụ thể: Lê Văn Đ trồng 800 cây, Lê Văn N1 trồng 1.200 cây, Đoàn Văn N trồng 1.500 cây, Nguyễn Văn C trồng 650 cây, Nguyễn Thị N3 trồng 1.000 cây.
Về độ tuổi: Khi gia đình ông M khai thác thì họ trồng, lúc xã đến đo đạc, xác minh thì họ vừa trồng cây keo con.
Quan điểm của UBND xã Â: Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông M, đề nghị Toà án buộc các bị đơn dỡ dọn cây keo mới trồng trên đất cấp cho ông M, trả lại đất cho ông M theo quy định.
- Đại diện Ủy ban nhân dân huyện H trình bày: Đồng ý với kết quả kiểm tra đo đạc đất; kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản của Toà án.
Về nguồn gốc đất: Theo thông tin UBND xã Â cung cấp thì là đất trống, đồi núi trọc, dân có trồng cây cải thiện đời sống rồi bỏ hoang, không sử dụng từ lâu. Ông Trần Văn M đăng ký và được UBND xã Â khảo sát, thông báo rộng rãi đúng quy trình, thủ tục. Nay ông Trần Văn M đã được UBND huyện H cấp giao đất trồng rừng sản xuất là đúng pháp luật.
Quan điểm của UBND huyện H: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M, đề nghị Toà án buộc các bị đơn tháo dỡ cây trồng trên đất cấp cho ông M, trả lại đất cho ông M theo quy định.
- Kết quả đo đạc đất; kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản ngày 27-4-2022, ngày 11-8-2023, kết quả định giá tài sản ngày 09-01-2023.
Giá đất: Vị trí 2, nhóm 1, giá 9.400 đồng/m² x 17.000m² = 159.800.000 đồng.
Cây trên đất: Cây keo lai 1.200 cây (trồng từ 01 đến 02 năm tuổi) giá 15.000 đồng/cây x 1.200 cây = 18.000.000 đồng.
+ Cây keo lai 300 cây trồng từ 03 tháng tuổi, giá 10.000 đồng/cây x 300 cây = 3.000.000 đồng.
+ Ông Lê Văn N1 lấn chiếm trồng cây keo con với diện tích 3.424m².
+ Ông Lê Văn Đ lấn chiếm trồng cây keo con với diện tích 4.285m².
+ Ông Đoàn Văn N lấn chiếm trồng cây keo con với diện tích 3.472m².
+ Bà Nguyễn Thị N3 lấn chiếm trồng cây keo con với diện tích 805m².
+ Ông Nguyễn Văn C (T) lấn chiếm trồng cây keo con với diện tích 2.218m².
+ Ông Cao Văn C2 lấn chiếm trồng cây keo con với diện tích 2.218m².
+ Cây keo trồng từ 1,5 đến 02 năm tuổi.
Ranh giới phần diện tích của từng người theo biên bản, sơ đồ trích đo địa chính ngày 11-8-2023 của Kiểm lâm viên xã Ân Hảo T2 thực hiện (kèm theo).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông M: Ông Nguyễn Ngọc Quốc L trình bày luận cứ và đề nghị: Căn cứ vào các Điều 166, 170 của Luật Đất đai, ông Trần Văn M được cấp đất rừng sản xuất tại khoản 4, tiều khu 68 (nay là tiểu khu F) hợp pháp. Buộc các bị đơn phải chấm dứt hành vi lấn chiếm đất của ông M, trả lại diện tích đất lấn chiếm trồng cây keo lai trên đất rừng sản xuất tại khoảnh 4, tiểu khu F (nay là tiểu khu F) cho ông Trần Văn M, theo phần của ông Lê Văn N1 3.424m², ông Lê Văn Đ 4.285m², ông Đoàn Văn N 3.472m².
+ Về phần bồi thường thiệt hại: Đại diện của nguyên đơn không yêu cầu, về chi phí tố tục khác đại diện của nguyên đơn tự nguyện chịu.
- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân tham gia phiên tòa phát biểu:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán giải quyết vụ án, Thư ký tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các bị đơn không tuân thủ pháp luật. Vụ án này, Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử nên rút kinh nghiệm trong vụ án khác.
+ Về ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ từ Điều 166 đến Điều170 của Luật Đất đai chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; buộc các bị đơn phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc nguyên đơn thực hiện quyền sử dụng đất. Buộc các bị đơn phải dỡ dọn tài sản trên đất rừng sản xuất của ông Trần Văn M tại khoảnh 4 tiểu khu F (nay là tiểu khu F), trả lại diện tích đất lấn chiếm của ông M.
Về phần bồi thường thiệt hại: Tại phiên toà đại diện của nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.
Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện của nguyên đơn đã rút khởi kiện đối với Nguyễn Thị N3, Phạm Minh T1, Cao Văn C2, Nguyễn Văn C nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với Nguyễn Thị N3, Phạm Minh T1, Cao Văn C2, Nguyễn Văn C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh tụng; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Các bên nguyên đơn, bị đơn đều cư trú tại: thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất tại khoảnh 4, tiểu khu F Ân Hảo T có tục danh (Đ). Do vậy, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
[2]. Về quan hệ pháp luật được xác định là “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất, đòi trả lại quyền sử dụng đất”.
[3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Các bị đơn Lê Văn N1, Lê Văn Đ, Đàon Văn N4; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị N2 (vợ ông N4) vắng mặt lần 02. Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên theo điểm d khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[4.]. Về tài sản tranh chấp.
[4.1]. Ông Trần Văn M được UBND huyện H cấp Quyết định số: 658/QĐ-UB ngày 07/12/1998 tên Trần Văn M tại tiểu khu F (Đ), diện tích 70.190m², có biên bản giao đất ngày 09/12/1998 xác định các giới cận rõ ràng. Ông M đã trồng cây keo nguyên liệu giấy (cây K), đã khai thác một số, còn đang khai thác thì các ông Lê Văn N1, Lê Văn Đ, Đoàn Văn N đến lấn chiếm trồng cây keo con, cản trở không cho ông M tiếp tục thực hiện quyền sử dụng đất rừng tại khoảnh D, tiểu khu F, có tục danh Đá Chồng (nay là tiểu khu F), thuộc thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
[4.2]. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được xác định: Nguồn gốc đất trống, đồi núi trọc, dân có trồng cây cải thiện đời sống rồi bỏ hoang, nhiều năm không canh tác. Năm 1997 ông Trần Văn M là người dân sinh sống tại V, xã Â (nay là xã Â) đã đăng ký và được UBND xã Â khảo sát, thông báo rộng rãi đúng quy trình, thủ tục. Năm 1997, ông Trần Văn M đã được UBND huyện H cấp giao đất trồng rừng sản xuất tại khoảnh 4, tiểu khu F, có tục danh Đá Chồng (nay là tiểu khu F) hợp pháp. Vào các năm (2011, 2012), ông M trồng cây keo lai, năm 2020 khai thác, năm 2021 ông M tiếp tục khai thác thì các hộ dân gần đó cho rằng đất rẫy cũ nên tranh chấp.
[4.3]. Xét yêu cầu của nguyên đơn.
- Năm 2021, các ông Lê Văn N1, Lê Văn Đ, Đoàn Văn N và một số người tại thôn V, xã Â đến lấn chiếm trồng cây keo con, cản trở không cho ông M thực hiện quyền sử dụng đất rừng tại khoảnh 4, tiểu khu F (tục danh Đ) là trái pháp luật. Hành vi của các bị đơn đã được UBND xã Â hoà giải không thành, ông M tiếp tục khởi kiện đến Toà án.
- Tại phiên toà, đại diện của nguyên đơn, Luật sư của nguyên đơn đưa ra tài liệu, chứng cứ chứng minh là có căn cứ và yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc các bị đơn phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc ông Trần Văn M thực hiện quyền sử dụng đất tại khoảnh 4, tiểu khu F (Đ). Buộc các bị đơn phải dỡ dọn cây Keo lai mới trồng để trả lại diện tích lấn chiếm tại khoảnh 4, tiểu khu F, có tục danh Đá Chồng (nay là tiểu khu F) thuộc: thôn V, xã Â, huyện H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Căn cứ kết quả đo đạc đất; kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản của Toà án: Ông Lê Văn N1 lấn chiếm trồng cây keo con với diện tích 3.424m². Ông Lê Văn Đ lấn chiếm trồng cây keo con với diện tích 4.285m². Ông Đoàn Văn N lấn chiếm trồng cây keo con với diện tích 3.472m² nên cần buộc các bị đơn phải dỡ dọn tài sản (trong đó có cây Keo lai mới trồng) trên đất rừng sản xuất tại khoảnh 4, tiểu khu F có tục danh Đá Chồng (nay là tiểu khu F) tương ứng với diện tích lấn chiếm, trả lại đất cho ông Trần Văn M.
- Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại: Khi khởi kiện nguyên đơn có yêu cầu, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, đại diện của nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[4.4]. Đối với ý kiến của bị đơn: Lê Văn N1, Lê Văn Đ, Đoàn Văn N cho rằng vùng đất này là đất rẫy cũ của các ông khai hoang, nhưng không đưa ra tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Quá trình UBND xã Â lập hồ sơ đã thông báo rộng rãi, công khai nhưng các bị đơn không có nhu cầu sử dụng đất, không yêu cầu nhận đất, không đăng ký kê khai, lời khiếu nại của các bị đơn là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
- Trong vụ án này, các bị đơn không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án, đưa ra lý do rẫy cũ và yêu cầu được canh tác đất rẫy cũ (phần diện tích lấn chiếm), các bị đơn không khởi kiện yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tại phiên toà, mặt dù đã được triệu tập hợp lệ (lần 02), nhưng các bị đơn vắng mặt là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của các bị đơn trước pháp luật.
- Đối với Nguyễn Thị N3, Phạm Minh T1, Nguyễn Văn C, Cao Văn C2: Khi khởi kiện nguyên đơn có yêu cầu, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, đại diện của nguyên đơn đã rút khởi kiện đối với những người này nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với Nguyễn Thị N3, Phạm Minh T1, Nguyễn Văn C, Cao Văn C2.
[4.5]. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
+ Phạm Thị L1, Trần Thị D1, Trần Thị K4, Trần Thị Hoa L2, Trần Thị O: Không có ý kiến gì, có đơn xin vắng mặt.
+ Trần Trung K đồng ý với khởi kiện và yêu cầu của ông Trần Văn M.
+ Bà Lê Thị N2 (vợ ông N) đã được Toà án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bà N2 trước pháp luật.
+ Đại diện Ủy ban nhân dân xã Â Tây: Đồng với kết quả đo đạc, kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản của Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận khởi kiện của ông M, buộc các bị đơn dỡ dọn cây trồng trên đất cấp cho ông M, trả lại đất cho ông M theo quy định.
+ Đại diện Ủy ban nhân dân huyện H: Đồng với kết quả đo đạc, kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản của Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận khởi kiện của ông M, buộc các bị đơn dỡ dọn cây trồng trên đất cấp cho ông M, trả lại đất cho ông M theo quy định.
[5]. Về chi phí tố tụng khác: Tòa án đã chi phí cho việc đo đạc; việc xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản 10.000.000 đồng, đại diện của nguyên đơn tự nguyện chịu được trừ vào tiền tạm ứng xong.
[6]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 9, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; ông Lê Văn Đ là người cao tuổi nên được miễn; ông Lê Văn N1, ông Đoàn Văn N nộp án phí theo quy định.
[7]. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân tham gia phiên tòa phát biểu:
- Về tố tụng: Thẩm phán giải quyết vụ án, Thư ký tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên vụ án này, Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử; các bị đơn không tuân thủ pháp luật nên cần rút kinh nghiệm trong vụ án khác.
- Về ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ từ Điều 166 đến Điều 170 của Luật Đất đai chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; buộc các bị đơn phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc nguyên đơn thực hiện quyền sử dụng đất. Buộc các bị đơn phải dỡ dọn tài sản trên đất rừng sản xuất của ông Trần Văn M tại khoảnh 4 tiểu khu F (nay là tiểu khu F), trả lại diện tích đất lấn chiếm của ông M. Cụ thể đối với từng bị đơn: Ông N1 3.424m², ông Đ 4.285m², ông N 3.472m².
+ Về phần bồi thường thiệt hại: Tại phiên toà đại diện của nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.
+ Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện của ngyên đơn đã rút khởi kiện đối với Nguyễn Thị N3, Phạm Minh T1, Cao Văn C2, Nguyễn Thành n đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với Nguyễn Thị N3, Phạm Minh T1, Cao Văn C2, Nguyễn T; Là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ vào khoản 2, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 155, 156, 157, 158, 163, 164, 165, 166, điểm d khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 235, khoản 1 Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 158, 163, 164, 166, 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các Điều 26, 166, 170 của Luật Đất đai;
Căn cứ vào Điều 9, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M.
- Buộc các ông Lê Văn N1, Lê Văn Đ, Đoàn Văn N phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc ông Trần Văn M thực hiện quyền sử dụng đất tại khoảnh 4, tiểu khu F tục danh Đ (nay là tiểu khu F) diện tích 85.350m² thuộc: thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
- Buộc các ông Lê Văn N1, Lê Văn Đ, Đoàn Văn N dỡ dọn tài sản trên đất (có cây keo lai) tại khoảnh 4, tiểu khu F tục danh Đ (nay là tiểu khu F) trả lại diện tích đất lấn chiếm tương ứng cho ông Trần Văn M. Cụ thể: Ông Lê Văn N1 với diện tích 3.424m²; Lê Văn Đ với diện tích 4.285m², Đoàn Văn N với diện tích 3.472m²; (kèm theo sơ đồ bản vẽ).
- Đình chỉ giải quyết vụ án đối với các bị đơn: Nguyễn Thị N3, Phạm Minh T1, Cao Văn C2, Nguyễn Thành .
2. Về chi phí tố tụng: Đại diện cho nguyên đơn tự nguyện chịu được trừ vào tiền tạm ứng chi phí định giá, đo đạc; xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản 10.000.000 đồng.
3. Về án phí sơ thẩm dân sự:
- Ông Lê Văn Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
- Ông Lê Văn N1, ông Đoàn Văn N mỗi người phải nộp 300.000 đồng.
+ Hoàn trả cho ông Trần Văn M 300.000 đồng tiền nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010513 ngày 24 tháng 02 năm 2022 (Trần Trung K nộp thay) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án.
4.1. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả tương ứng với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4.2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết tại trụ sở chính quyền địa phương nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Vân |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC THÀNH VIÊN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 91/2023/DS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất, đòi trả lại quyền sử dụng đất
- Số bản án: 91/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất, đòi trả lại quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
