|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG Bản án số: 91/2025/HNGĐ-ST Ngày 02-12-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Hoàng Mai
2. Ông Lê Thành Thật
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 126/2025/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 291/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 343/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1977
Cư trú: số F, tổ A, ấp N, xã N, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn xin vắng)
2. Bị đơn: Bà Phan Thị Kim A, sinh năm 1985
Cư trú: số F, tổ A, ấp N, xã N, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện nay: số B, khóm T, phường M, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn ông Nguyễn Đình N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Đình N và bà Phan Thị Kim A tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào năm 2015, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã N, tỉnh An Giang) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 162, ngày 22/7/2016. Sau kết hôn, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã; đến năm 2023 thì bà Kim A bỏ về nhà cha mẹ ruột sống và giao 02 con chung cho ông N chăm sóc, nuôi dưỡng; vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài, nên ông N yêu cầu ly hôn với bà Kim A.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Như Ý, sinh ngày 13/01/2016 và Nguyễn Như N1, sinh ngày 30/01/2022. Khi ly hôn, ông N yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng 02 con chung; ông N không yêu cầu bà Kim A phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Phan Thị Kim A đều vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của ông N. Tại phiên tòa, bà Kim A tiếp tục vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Đình N đối với bà Phan Thị Kim A. Về con chung, giao 02 cháu Nguyễn Như Ý và Nguyễn Như N1 cho ông N tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Đình N khởi kiện tranh chấp ly hôn với bà Phan Thị Kim A. Bà Kim A cư trú tại số B, khóm T, phường M, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Kim A được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông N và bà Kim A tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã N, tỉnh An Giang) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/7/2016, nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình giải quyết, ông N xác định không còn tình cảm với bà Kim A, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và không thể hàn gắn nên ông yêu cầu ly hôn. Bà Kim A vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của ông N về tranh chấp ly hôn; không cung cấp, giao nộp chứng cứ. Tại phiên tòa, bà Kim A tiếp tục vắng mặt không lý do, thể hiện bà Kim A không có thiện chí hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông N và bà Kim A đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì sẽ không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N.
[2.2] Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Như Ý, sinh ngày 13/01/2016 và Nguyễn Như N1, sinh ngày 30/01/2022. Xét thấy, hiện 02 cháu Ý và N1 đang sống cùng ông N, được ông N chăm sóc tốt và nguyện vọng của cháu Ý cũng mong muốn được sống cùng cha. Do đó, để ổn định cuộc sống và đảm bảo cho các cháu phát triển tốt về mọi mặt khi ông N và bà Kim A ly hôn, Hội đồng xét xử quyết định giao 02 con chung cho ông N tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
Ông N cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà Kim A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung Nguyễn Như Ý và Nguyễn Như N1. Trường hợp bà Kim A lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì ông N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà Kim A.
Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, ông N là người được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, không có yêu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích khác của con, cơ quan có thẩm quyền; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Như không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Kim A không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết. Đương sự có tranh chấp, khởi kiện vụ kiện khác theo quy định.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Đình N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình N.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Đình N được ly hôn bà Phan Thị Kim A.
- Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Như Ý, sinh ngày 13/01/2016 và Nguyễn Như N1, sinh ngày 30/01/2022; hiện 02 con chung đang sống cùng ông N. Ông N được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung.
Ông N cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà Kim A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung 02 con chung Nguyễn Như Ý và Nguyễn Như N1. Trường hợp bà Kim A lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì ông N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà Kim A.
Về cấp dưỡng: Không yêu cầu giải quyết.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích khác của con, cơ quan có thẩm quyền; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Ông Nguyễn Đình N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002559, ngày 29/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Ông N đã nộp đủ tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Chiền |
Nơi nhận:
|
Bản án số 91/2025/HNGĐ-ST ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 91/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của NĐ
