TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 91/2025/HS-ST Ngày 02 - 4 - 2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thành Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Xuân Giới và bà Phạm Thị Hiền.
Thư ký phiên tòa: bà Vũ Tú Uyên, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Hạ Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Trần Nhật L, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1989, tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ H, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân T và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 03/7/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 03/11/2020, nộp xong án phí. Ngày 29/4/2021, chấp hành xong hình phạt tù; bị tạm giữ từ ngày 05/02/2025; bị tạm giam từ ngày 11/02/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác (những người làm chứng): ông Nguyễn Ngọc L1 và ông Nguyễn Ngọc S; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/02/2025, tại cửa hàng Q thuộc tổ B, khu B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Công an phường C phát hiện, bắt quả tang Trần Nhật L có hành vi cất giấu trái phép chất nghi là ma tuý. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon chứa chất tinh thể mầu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, gắn sim 0352.393.289, gắn ốp lưng màu xám
Tại bản Kết luận giám định số 190 ngày 10/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: chất tinh thể màu trắng có trong 01 túi nilon, thu giữ của Trần Nhật L là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,121 (không phẩy một hai một) gam.
Quá trình điều tra, bị cáo khai: sử dụng ma túy từ năm 2007. Đầu tháng 02/2025, L đến thành phố M, tỉnh Quảng Ninh chơi, bị cáo gặp và mua của người đàn ông không rõ lai lịch ở khu chợ gần cầu K 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo mang về thành phố H sử dụng một ít, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu bên trong ốp lưng của điện thoại di động Iphone để tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/2/2025, khi bị cáo đang ở cửa hàng quần áo YODY thì có lực lượng Công an đến kiểm tra, lúc này bị cáo đã tự mở ốp điện thoại đang cầm trên tay trái rồi lấy ra 01 túi nilon chứa ma túy đá giao nộp cho Công an. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
Tại bản Cáo trạng số: 1887/CT-VKSHL ngày 07 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Trần Nhật L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Trần Nhật L từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 05/02/2025).
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì đã niêm phong số 190; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, gắn sim 0352.393.289, gắn ốp lưng màu xám.
Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về việc vắng mặt những người làm chứng tại phiên tòa: giai đoạn điều tra họ đã có lời khai về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án và không có ý kiến gì. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ vẫn đảm bảo thực hiện đúng quy định Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung truy tố:
[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng về thời gian, địa điểm, phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo và vật chứng bị thu giữ. Quá trình thu giữ, niêm phong, bảo quản, giao nhận vật chứng có sự chứng kiến của bị cáo, người làm chứng và tiến hành giám định chất ma túy theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, trung thực và có cơ sở khoa học, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Q, cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/02/2025, tại cửa hàng Q thuộc tổ B, khu B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Trần Nhật L có hành vi tàng trữ trái phép 0,121 (không phẩy một hai một) gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
[2.2] Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...
c) ...Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”...
Methamphetamine là chất ma túy bị Nhà nước tuyệt đối cấm sử dụng trong đời sống xã hội theo quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 90/2024/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ.
[2.3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có cơ sở pháp luật.
[2.4] Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an xã hội, làm bất bình trong quần chúng nhân dân địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm lan truyền bệnh tật và các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh.
[2.5] Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Đối với hình phạt chính: căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng ma túy đã tàng trữ, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân xấu, đã từng bị kết án tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân lại tiếp tục phạm tội, nên cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi của mình, không những nhằm trừng trị mà còn để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng được mục đích của hình phạt.
[3.2] Đối với hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là người sử dụng ma túy từ lâu, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng và tài sản bị thu giữ: số ma túy thu của bị cáo là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; chiếc điện thoại gắn 01 ốp lưng và 01 sim điện thoại thu của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
[5] Đối với người bán ma túy cho bị cáo Cơ quan điều tra không làm rõ được, nên không có cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, các khoản 1 và 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
1. Xử phạt bị cáo Trần Nhật L 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 05 tháng 02 năm 2025).
2. Tịch thu và tiêu hủy 0,07 gam Methamphetamine trong phong bì niêm phong số 190/KL-KTHS ngày 10/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q; trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, kèm 01 (một) sim điện thoại, 01 (một) ốp lưng điện thoại màu xám. Tình trạng các vật chứng này theo Biên bản giao vật chứng, tài sản số: 145/BB-THA ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
3. Buộc bị cáo Trần Nhật L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Lâm |
Bản án số 91/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 91/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
