|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 91/2025/DS-PT Ngày: 24/3/2025 |
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Ngô Thị Minh Trang
- Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
- Bà Nguyễn Thị Nhiên
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Nhựt Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: bà Đào Thị Ngọc T – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 305/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2024/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 44/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Đào Duy H, sinh ngày 23/11/1979 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Số B đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- - Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Lại Hùng A, sinh ngày 08/01/1979 (có mặt)
- ĐKTT: Số B đường N, khu phố E, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Chỗ ở hiện nay: BT A số A đường T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- - Bị đơn: Ông Võ Quốc D, sinh năm 1976
- Địa chỉ: Số G đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Thùy N, sinh năm 1981 (có mặt)
- Địa chỉ: Số G đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Trương Ngọc H1, sinh năm 1978 (vắng mặt)
- Ông Võ Quốc C, sinh năm 1978 (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đào Duy H và người đại diện uỷ quyền của nguyên đơn là ông Lại Hùng A trình bày:
Vào ngày 20/12/2019, do quen biết với vợ chồng ông Võ Quốc D nên ông D có vay của ông H số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), ông D có làm biên nhận, thời gian vay 06 tháng trả; có thoả thuận miệng lãi suất là 3,7%/tháng, ông D có giao 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 280867 ngày 03/07/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp cho Ông Võ Quốc C đứng tên cho ông H giữ để làm tin và đảm bảo khoản nợ vay của ông D. Mục đích vay tiền để bù đắp mua nhà, mua gỗ về đóng đồ trang trí nội thất tại nhà ông D. Tại thời điểm vay thì ông Võ Quốc C có ký đồng ý giao tài sản. Khi nào trả hết tiền sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đến ngày 08/12/2022, ông Võ Quốc D tiếp tục vay thêm 200.000.000 đồng và chốt tổng số tiền là 400.000.000 đồng tiền gốc, có làm biên nhận, hứa sau 06 tháng trả, hàng tháng ông D phải đóng lãi 15.000.000 đồng vào ngày 18 hàng tháng. Sau ngày 08/12/2022, ông D có chuyển khoản trả cho ông H nhiều lần nhận được số tiền lãi nhưng chính xác thì ông H không nhớ số tiền là bao nhiêu. Đến nay ôn H nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông Quốc D, bà Nguyễn Thị Thùy N thanh toán tiền gốc và lãi nhưng vợ, chồng ông không thanh toán theo thỏa thuận.
Trong quá trình giải quyết vụ án thì ngày 30/11/2023 giữa ông H và ông D có xác định công nợ ông D còn nợ ông H 400.000.000 đồng tiền gốc và 75.000.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 15/07/2024, ông D có trả được cho ông H số tiền lãi là 70.000.000 đồng. Nay ông H yêu cầu ông D trả số tiền còn nợ gốc 400.000.000 đồng và 5.000.000 đồng tiền lãi và yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật 10%/năm cho đến ngày xét xử sơ thẩm trên số tiền gốc 400.000.000 đồng.
Ngày 19/08/2024, ông H tự nguyện trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 280867 ngày 03/07/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp cho ông Võ Quốc C đứng tên cho ông Võ Quốc C và bà Trương Ngọc H1.
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Võ Quốc D trình bày:
Từ năm 2019, ông D có vay nhiều lần của ông H và cũng có trả gốc và lãi, đến ngày 08/12/2022 ông D có làm biên nhận chốt nợ ông H số tiền 400.000.000 đồng tiền gốc, thoả thuận 6%/tháng, thời gian sau thì thoả thuận lãi suất 15.000.000 đồng/tháng. Mục đích vay là để mua gỗ đóng đồ trang trí nội thất bán. Sau khi vay tiền ông D có đóng lãi cho ông H nhiều lần nhưng không nhớ bao nhiêu. Thời gian sau này do làm ăn thất bại nên ông D không đóng lãi cũng như trả vốn được cho ông H. Khi vay ông D có đưa cho ông H giữ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 280867 ngày 03/07/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp cho ông Võ Quốc C đứng tên để làm tin. Đến ngày 19/08/2024 thì ông H đã trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C, bà H1.
Nay ông D không yêu cầu tính lại đối với tiền lãi suất vay giữa ông D với ông H và thống nhất theo thoả thuận chốt công nợ ngày 30/11/2023 là còn nợ ông H tiền gốc 400.000.000 đồng và tiền lãi 75.000.000 đồng. Sau đó ông D có trả lãi cho ông H 70.000.000 đồng. Nay ông D thừa nhận và thống nhất còn nợ ông H số tiền gốc là 400.000.000 đồng và 5.000.000 đồng tiền lãi và đồng ý yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật 10%/năm cho đến ngày xét xử sơ thẩm trên số tiền gốc 400.000.000 đồng, nhưng do hoàn cảnh làm ăn khó khăn nên xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng.
Ông Võ Quốc C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Giữa ông C và ông D là anh em ruột nên ông C thừa nhận có đưa cho ông D mượn 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 280867 ngày 03/07/2019 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp cho ông Võ Quốc C đứng tên để ông D đưa cho ông H giữ để làm tin khi vay tiền và ông D thừa nhận có ký vào giấy giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H. Nay ông H đã trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho ông C nên ông C không có yêu cầu gì trong vụ án này, còn nợ ông D vay của ông H thì ông D có nghĩa vụ trả cho ông H. Ông C và vợ là bà H1 không có trách nhiệm gì không việc này.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 16/9/2024, TAND thành phố Rạch Giá tuyên xử: buộc ông Võ Quốc D và vợ là bà Nguyễn Thị Thùy N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đào Duy H số tiền gốc và lãi là 436.539.999 đồng (Bốn trăm ba mươi sáu triệu năm trăm ba mươi chín nghìn chín trăm chín mươi chín đồng). (Trong đó tiền gốc là 400.000.000 đồng, tiền lãi là 36.539.999 đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chậm thực hiện, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 17/10/2024 bà Nguyễn Thị Thùy N có đơn kháng cáo với nội dung: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đào Duy H buộc bà N liên đới trả số tiền 436.539.999 đồng.
Tại phiên tòa:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đào Duy H là ông Lại Hùng A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bà Nguyễn Thị Thùy N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng ý liên đới cùng với ông D trả nợ cho ông H, không kháng cáo đối với số tiền phải trả 436.539.999 đồng. Bà N cho rằng không nhận được văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá khi giải quyết vụ án nên bà không biết để có ý kiến. Ngoài ra bà N cho rằng đây là khoản nợ riêng của ông D, biên nhận nhận nợ giữa ông D và ông H không có ký tên bà N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị án tại phiên tòa phúc thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Các đương sự trong vụ án đã được tống đạt bản án theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thùy N đã nhận bản án sơ thẩm và làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ.
Bị đơn là ông Võ Quốc D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Võ Quốc C và bà Trương Ngọc H1 vắng mặt nhưng xét thấy không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp nên Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thùy N:
[2.1].Theo đơn kháng cáo và tại phiên tòa, bà N cho rằng không nhận được văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá nên việc Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử vắng mặt và buộc bà N phải liên đới cùng với ông D trả nợ cho ông H là không có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy: căn cứ vào các tài liệu thể hiện trong hồ sơ vụ án là các biên bản giao nhận văn bản tố tụng từ thông báo thụ lý vụ án; thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đã được tòa án cấp sơ thẩm giao cho bà N và ông D là người ký nhận đồng thời cam kết giao cho bà N. Tại biên bản phiên tòa ngày 16/9/2024 (bút lục 90-94) ông D có thừa nhận các thông báo giấy mời của Tòa án do ông D nhận thay và ông D có cho bà N biết nhưng bà N không có ý kiến. Tại phiên tòa, bà N thừa nhận bà N và ông D vẫn còn quan hệ vợ chồng và sinh sống cùng địa chỉ số số 707A đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Ông D đã nhận văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết giao lại cho bà N là trách nhiệm của ông D, bà N cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không tống đạt văn bản tố tụng cho bà N và bà N không biết việc Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá thụ lý giải quyết vụ án và xét xử vụ án là không có căn cứ trong khi bản án dân sự sơ thẩm sau khi TAND thành phố Rạch Giá xét xử cũng do ông D ký nhận thay bà N và bà N đã biết và thực hiện việc kháng cáo.
[2.2]. Bà N kháng cáo không đồng ý liên đới cùng với ông D trả cho ông H số tiền 436.539.999 đồng
Xét thấy, giữa ông H và ông D đều thừa nhận việc vay tiền này là để ông D mua gỗ đóng đồ trang trí nội thất tại nhà ông D để bán, việc vay tiền bà N không có ký vào biên nhận nợ nhưng ông D xác định tại thời điểm vay tiền của ông H cũng như tại thời điểm mở phiên toà hôm nay ông D và bà N vẫn là mối quan hệ vợ chồng và đang sinh sống cùng tại địa chỉ số G đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Bà N cũng thừa nhận vợ chồng bà có thuê địa điểm tại đường C, thành phố R để mở xưởng gỗ từ năm 2014, đến năm 2019 vợ chồng nhận chuyển nhượng đất và chuyển địa điểm kinh doanh đến số G đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang vừa làm nơi ở vừa mở xưởng gỗ. Bà N cho rằng việc kinh doanh xưởng gỗ là do ông D tự kinh doanh và sử dụng tiền vay vào mục đích riêng, bà không biết việc ông D vay mượn tiền của ông H. Tuy nhiên, bà N thừa nhận trong quá trình chung sống giữa bà và ông D không phân chia tài sản chung và kinh doanh riêng. Bà N cũng không có chứng cứ chứng minh việc ông D vay tiền vào mục đích riêng trong khi ông D thừa nhận vay tiền của ông H là để kinh doanh xưởng gỗ.
Do đó, Bản án sơ thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định nghĩa vụ chung về tài sản vợ chồng: “2. Nghĩa vụ do vợ chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình” để buộc bà N phải có nghĩa vụ cùng chịu trách nhiệm liên với với ông D trả nợ cho ông H là có căn cứ. Đối với số tiền phải trả là 436.539.999 đồng ông D và bà N không kháng cáo nên không xem xét. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà N, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đối với các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.
[3]. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Quốc D và vợ là bà Nguyễn Thị Thùy N phải chịu 21.461.599 đồng (Hai mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm chín mươi chín đồng)
-Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà N phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng. Bà N được khấu trừ 300.000 đồng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007629 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 293, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thùy N.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 16/9/2024 của TAND thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- - Áp dụng Điều 463; Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 357 Bộ luật dân sự 2015; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Duy H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Võ Quốc D và bà Nguyễn Thị Thùy N.
- Buộc ông Võ Quốc D và vợ là bà Nguyễn Thị Thùy N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đào Duy H số tiền gốc và lãi là 436.539.999 đồng (Bốn trăm ba mươi sáu triệu năm trăm ba mươi chín nghìn chín trăm chín mươi chín đồng). (Trong đó tiền gốc là 400.000.000 đồng, tiền lãi là 36.539.999 đồng).
- Nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chậm trả.
- Về án phí sơ thẩm: Ông Võ Quốc D và vợ là bà Nguyễn Thị Thùy N phải chịu 21.461.599 đồng (Hai mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm chín mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả cho ông Đào Duy H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.415.000 đồng (năm triệu bốn trăm mười lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002862 ngày 31/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thùy N phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng. Bà N được khấu trừ 300.000 đồng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007629 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, Kiên Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Minh Trang |
Bản án số 91/2025/DS-PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 91/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn ông H yêu cầu buộc bị đơn là ông D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà N phải trả lại tiền đã vay
