Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 91/2025/HSST

Ngày: 18-3-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Minh Hiếu
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Tường Vy – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/2025/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐXXST- HS ngày 05/3/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1976 tại Thừa Thiên Huế; nơi ĐKHKTT: 77/1, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1958 và bà Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1958; bị cáo có chồng là Phan Trọng S, sinh năm 1965 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/11/2024 đến ngày 09/02/2025; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/02/2025 đến nay. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Lê Hữu T1, sinh năm 1998; nơi ĐKHKTT: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1958; trú tại: 7, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Phương T là nhân viên văn phòng nhập hồ sơ và làm báo cáo tại Trung tâm K, địa chỉ đường Đ, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Do không có tiền tiêu sài T đã cung cấp thông tin gian dối nhận ghi danh hồ sơ đăng ký học và thi giấy phép lái xe ô tô hạng B1. Khoảng tháng 11/2019, anh Lê Hữu T1 liên hệ với T đăng ký học lái xe B1, T yêu cầu anh T1 nộp chi phí là 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) và thông tin sẽ tổ chức thi sát hạch sau 3 tháng. Anh T1 đã đến Trung tâm K gặp T đóng số tiền 13.000.000₫. Sau khi nhận tiền của anh T1, T không đăng ký hồ sơ thi sát hạch giấy phép lái xe cho anh T1 với Trung tâm K và cũng không nộp tiền anh T1 đóng vào Trung tâm mà lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để anh T1 tin tưởng, T nhờ anh Đặng Ngọc Đ là giáo viên dạy lái xe tại Trung tâm K tập dạy lái xe cho anh T1 rồi T trả tiền dạy theo giờ, tuy nhiên T vẫn chưa trả tiền cho anh Đ.

Tháng 3/2020, anh Lê Hữu T1 gọi T hỏi lịch thi giấy phép lái xe thì T nói dối chưa có lịch. Thời điểm dịch covid 19 bùng phát mạnh nên anh Đ thông báo cho anh T1 là Trung tâm K tạm đóng cửa nên không dạy lái xe nữa. Đến tháng 02/2022, sau khi hết dịch anh Lê Hữu T1 tiếp tục gọi điện cho T hỏi việc thi giấy phép lái xe, T nói dối do dịch covid 19 bùng phát quá lâu và không liên lạc được với anh T1 nên Trung tâm K đã hủy hồ sơ của anh T1. T nói dối tiền học phí đợt này tăng nên T sẽ hỗ trợ cho anh T1 làm hồ sơ đăng ký học và thi lại giấy phép lái xe B1 nhưng anh T1 phải đóng thêm 9.000.000đ (chín triệu đồng), anh T1 đồng ý. Ngày 25/02/2022, anh T1 dùng số tài khoản 85146 của Ngân hàng V chuyển số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng) đến số tài khoản của T là 050041505750 tại Ngân hàng S1. T tiếp tục nhờ anh Đ dạy lái xe cho anh T1. Ngày 02/7/2022, anh T1 chuyển tiếp số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) cho T và khoảng 3-4 ngày sau anh T1 xuống Trung tâm kỹ năng thực hành xe cơ giới Giao thông vận tải K học và đóng tiền mặt cho T 1.000.000₫ (một triệu đồng). Sau khi nhận tiền của anh T1, T không đăng ký hồ sơ học lái xe cho anh T1 và cũng không nộp tiền vào Trung tâm mà lấy tiền đó tiêu xài cá nhân. Đến khoảng tháng 11/2023 anh Lê Hữu T1 đến Trung tâm K hỏi thông tin và lịch thi thì biết Nguyễn Thị Phương T không đăng ký học cho anh T1. Anh T1 liên hệ nhiều lần với T yêu cầu trả lại tiền nhưng T hứa hẹn và vẫn chưa trả nên anh T1 làm đơn trình báo đến Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Về vật chứng thu giữ : 14 trang A4 có nội dung tin nhắn giữa anh Lê Hữu T1 với Nguyễn Thị Phương T, sao kê tài khoản 050041505750 ngân hàng S1 của Nguyễn Thị Phương T từ ngày 01/02/2022 đến ngày 31/7/2022.

2

Theo bản cáo trạng số 82/CT-VKS- DA ngày 22/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Phương T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị hại Lê Hữu T1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Phương T trả lại số tiền 22.000.000₫ (hai mươi hai triệu đồng) và tiền lãi trong thời gian 07 năm bị cáo chiếm đoạt là 10.000.000đ (mười triệu đồng). Ngày 21/02 và ngày 24/02/2025 bà Huỳnh Thị Kim C là mẹ bị cáo đã nộp số tiền 22.000.000₫ (hai mươi hai triệu đồng) vào cơ quan Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dương theo biên lai số 0000321 và 0000324.

Trong phần tranh luận Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng, đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 174; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương T mức hình phạt từ 09 tháng – 01 năm tù; Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa bị cáo đồng ý trả số tiền theo yêu cầu của bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Kim C đã nộp thay cho bị cáo số tiền 22.000.000đ tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An và không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã nộp thay.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, cơ quan điều tra Công an thành phố D, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thị Phương T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tại phiên toà và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng tháng 11/2019, Nguyễn Thị Phương T là nhân viên văn phòng tại Trung tâm K, địa chỉ đường Đ, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Lợi dụng công việc của mình T đã cung cấp thông tin gian dối, nhận ghi danh hồ sơ đăng ký học và thi giấy phép lái xe ô tô hạng B1 với anh Lê Hữu T1. T yêu cầu anh T1 đóng số tiền 13.000.000đ (mười ba triệu đồng). Sau đó đến tháng 02/2022, T tiếp tục nói đối để anh T1 đóng thêm 9.000.000₫ (chín triệu đồng). Tổng số tiền anh T1 đưa cho T 02 lần là 22.000.000₫ (hai mươi hai triệu đồng), T không nộp hồ sơ và đóng số tiền anh T1 đã nộp cho Trung tâm K, mà T chiếm đoạt số tiền trên tiêu sài cá nhân.

Hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương, làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ sở dạy lái xe. Bị cáo biết hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện và thực hiện 02 lần, vì vậy cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện 2 lần nên thuộc trường hợp tăng nặng quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tác động gia đình nộp lại số tiền chiếm đoạt; sau khi phạm tội có thái độ thành khẩn khai báo là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa bị hại Lê Hữu T1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền chiếm đoạt là 22.000.000đ (hai mươi hai triệu đồng) và 10.000.000đ (mười triệu đồng) tiền lãi của thời gian bị cáo chiếm đoạt tiền bị hại. Tại phiên toà, bị cáo đồng ý trả lại cho bị hại số tiền theo yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Bà Huỳnh Thị Kim C là mẹ bị cáo đã nộp 22.000.000₫ (hai mươi hai triệu đồng) tại cơ quan thi hành án theo biên lai số 0000321 ngày 21/02/2025 và biên lai số 0000324 ngày 24/02/2025, nên được khấu trừ vào số tiền bồi thường. Bị cáo còn phải nộp thêm 10.000.000đ (mười triệu đồng) trả cho bị hại. Bà C không yêu cầu bị cáo thanh toán lại số tiền 22.000.000đ (hai mươi hai triệu đồng) đã nộp thay bị cáo tại cơ quan thi hành án nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về vật chứng: Đối với 14 trang A4 có nội dung tin nhắn giữa anh Lê Hữu T1 với Nguyễn Thị Phương T và sao kê tài khoản 050041505750 ngân hàng S1 của Nguyễn Thị Phương T từ ngày 01/02/2022 đến ngày 31/7/2022 là tài liệu chứng cứ nên kèm theo hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí : Bị cáo phạm tội và bị kết án, nên phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

4

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 174; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
  • - Điều 589 Bộ luật Dân sự;
  • - Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Phương T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Phương T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 20/02/2025.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Phương T trả cho bị hại Lê Hữu T1 số tiền 32.000.000₫ (ba mươi hai triệu đồng), được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai số 0000321 ngày 21/02/2025 và biên lai số 0000324 ngày 24/02/2025 tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bị cáo T còn phải nộp 10.000.000đ (mười triệu đồng) để trả cho bị hại.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí:

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP.Dĩ An;
  • - Chi cục THADS TP.Dĩ An;
  • - Phân trại tạm giam khu vực TP.Dĩ An;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, THAHS, AV.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Anh Thư

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/HSST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 91/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đã bồi thường 2/3
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger