Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2025/DS-PT

Ngày 17-03-2025

“Tranh chấp quyền sử dụng đất và

tài sản gắn liền với đất.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Mến
Các Thẩm phán:Ông Trần Văn Lực
Ông Nguyễn Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: ông Thạch Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 288/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 31/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự

Nguyên đơn: Bà Trần Hồng H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà H: Ông Trần Văn M, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp T xã H huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt)

Bị đơn:

  • Ông Phan Văn S, sinh năm 1939 (có mặt);
  • Ông Phan Văn C, sinh năm 1961 (có mặt);
  • Bà Phan Thị N, sinh năm 1949 (có mặt);
  • Ông Võ Văn D, sinh năm 1952 (có mặt);
  • Cùng địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Phan Thị N1, sinh năm 1953 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Chị Võ Thị H1, sinh năm 1982 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Chị Võ Thị Cẩm D1, sinh năm 1990 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Chị Võ Thị Lệ T, sinh năm 1997 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Ông Trịnh Văn R, sinh năm 1968 (có mặt);
  • Anh Trịnh Văn Vũ L, sinh năm 1996 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1962 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Anh Phan Hữu T1, sinh năm 1983 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Anh Phan Hữu T2, sinh năm 1985 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Chị Phan Thị Thu Q, sinh năm 1992 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Chị Phan Thị Mỹ N2, sinh năm 1996 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Bà Trần Thi C1, sinh năm 1940 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Bà Phan Thị Thu T3, sinh năm 1978 (có mặt);
  • Chị Phan Thị M1, sinh năm 1983 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Anh Phan Văn T4, sinh năm 1994 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1978 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Bà Huỳnh Kim N3, sinh năm 1982 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Anh Phan Minh P, sinh năm 2006 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Anh Võ Quốc T5, sinh năm 2004 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Cùng địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người kháng cáo: Ông Phan Văn S, Phan Văn C, Phan Thị N, Võ Văn D là bị đơn; Bà Phan Thị N1 và chị Phan Thị Thu T3 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Trần Hồng H, cũng như người đại diện hợp pháp của bà H trình bày và có yêu cầu như sau:

Vào năm 1990 gia đình ông Trần Văn M nhận chuyển nhượng đất của bà Dương Thị Q1 thửa đất số 801, tờ bản đồ số 8, diện tích 4.220m², toạ lạc ấp T, xã H, huyện C, năm 1996 ông kê khai đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện C (UBND) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Năm 2012 thửa đất này của ông M bị kê biên thi hành án để trả nợ nên được ông Trần Văn H2 mua lại đất theo quyết định kê biên đấu giá, cuối năm 2012 ông H2 đã chuyển nhượng lại thửa đất này cho bà Trần Hồng H và được UBND huyện C đo đạc cấp lại quyền sử dụng đã tách thành 03 thửa đất, cho bà Trần Hồng H đứng tên 02 thửa, thửa 2898, diện tích 2.138m², thửa 3054, diện tích 523m² và thửa còn lại cho Thái Trường A là em của bà H đứng tên.

Thửa đất 2898 tiếp giáp với thửa đất số 800 của ông Võ Văn H3 (nguồn gốc đất của hai bên trước đây cũng là của bà Dương Thị Q1), giữa hai thửa đất 2898 và thửa 800 liền kề nhau nằm phía ngoài, trước đây là đất ruộng, hai bên đất có cái bờ làm ranh và bờ ranh này cho hộ ông Phan Văn S, Phan Văn C là những hộ có đất bên trong đi nhờ vào nhà, ra đường công cộng và cho những người dân sử dụng đi tắt vào ruộng, đi nơi khác do không có lối đi thuận tiện; sau này những người dân không còn đi lối này, chỉ còn hộ ông S, ông C dùng đi hàng ngày ra đường công cộng nên trước đây đại diện hộ bên trong là ông S, ông C cũng xin đi nhờ lối này và hiện nay bà H, cũng như phía ông H3 cũng dành cho các hộ bên trong có lối đi, cụ thể bên thửa đất của bà H chừa lối đi chiều ngang 1,6m chiều dài khoảng 36m, phía đất của ông H3 có chừa lối đi chiều ngang 1m, dài khoảng hơn 36m, do những hộ này không có lối đi nào khác.

Sau khi được đất đi thì các hộ bên trong thường gây mâu thuẫn với gia đình bà H và dành phần lối đi của họ nên bà H không đồng ý, nhiều lần qua hoà giải của xã, có lần ông S đại diện các hộ bên trong xin được đi nhưng bà không đồng ý vì các hộ bên trong luôn gây mâu thuẫn.

Đồng thời phần ranh đất của bà H giáp ranh đất thửa 798 của ông Phan Văn C, phía bà H đã xây dựng tường rào nhưng chưa hết ranh đất, còn chừa lại phía ngoài khoảng 03m, do lúc đó trên đất có nhiều cây cối cản trở không đào phá được nên để lại chưa sử dụng. Phía đất của ông C ông có cho ông Võ Văn D, bà Phan Thị N1 cất nhà cơ bản trong đó phần mái che, nhà tắm, nhà sau đã lấn qua phần ranh đất của bà H, bà có ngăn cản và yêu cầu hộ ông D trả lại phần lấn ranh ngang khoảng 3m, dài khoảng hơn 30m nhưng phía ông D không đồng ý.

Đồng thời phần ranh đất của bà H kéo dài phía sau giáp ranh đất thửa 797 của ông Phan Văn S và phía bà H đã xây dựng tường rào nhưng chưa hết ranh đất, còn chừa lại phía ngoài khoảng 3m, do lúc đó trên đất có nhiều cây cối cản trở không đào phá được nên để lại chưa sử dụng. Đến khoảng năm 2018, 2019 được biết hộ Phan Văn S cho gia đình bà Phan Thị Thu T3 phần đất giáp ranh đất với đất của bà H, gia đình bà T3 cất nhà ở cơ bản trong đó phần nhà sau, nhà tắm và một số cây trồng đã lấn qua phần ranh đất của bà H ngang khoảng 3m, dài khoảng 27m là phần đất bên ngoài hàng rào nên bà H đã yêu cầu phía ông S, bà T3 di dời tài sản trả đất nhưng không ai đồng ý trả.

Quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa hai bên không thoả thuận được, do đó ông M đại diện bà Trần Hồng H yêu cầu cụ thể như sau:

  • Yêu cầu ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D, bà Phan Thị N1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Cẩm D1, bà Võ Thị Lệ T, ông Trịnh Văn R, ông Trịnh Văn Vũ L, bà Nguyễn Thị X, ông Phan Hữu T1, ông Phan Hữu T2, bà Phan Thị Thu Q, bà Phan Thị Mỹ N2, bà Trần Thị C2, bà Phan Thị Thu T3, bà Phan Thị M1, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn Đ, anh Phan Minh P, anh Võ Quốc T5, bà Huỳnh Kim N3 phải trả lại phần đất lối đi diện tích thực đo 57,5m², thuộc thửa đất số 2898, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C cho bà H được quyền sử dụng.
  • Yêu cầu ông Võ Văn D, bà Phan Thị N1 di dời tài sản trên đất, trả lại ranh đất diện tích thực đo 92,5m², thửa đất số 2898, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C cho bà H được quyền sử dụng.
  • Yêu cầu ông Phan Văn Đ, bà Phan Thị Thu T3 phải di dời tài sản trên đất, trả lại ranh đất diện tích thực đo 26,2m², thuộc thửa đất số 2898, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C cho bà H được quyền sử dụng.

Chị Võ Thị Cẩm D1 đại diện các bị đơn ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn trình bày yêu cầu như sau:

  • Chị không đồng ý yêu cầu của ông Trần Văn M đại diện cho bà Trần Hồng H về việc yêu cầu các hộ có nhà, đất bên trả lại đất lối đi diện tích thực đo là 57,5m². Lý do, hiện bên trong hai thửa đất 2898 của bà H và thửa 800 của ông H3 là hai thửa đất 797 của hộ ông S đứng tên quyền sử dụng và thửa đất 798 của ông C đứng tên quyền sử dụng và trên hai thửa đất bên trong này gồm 06 căn nhà của 06 gia đình, gồm hộ ông Phan Văn S, hộ ông Phan Văn C, hộ bà Phan Thị N, hộ ông Võ Văn D và hộ Phan Thị Thu T3; hộ ông Phan Văn S gồm các thành viên bà Trần Thị C2, anh Phan Văn T4, chị Huỳnh Kim N3, hộ ông Phan Văn C gồm các thành viên bà Nguyễn Thị X, Phan Hữu T1, Phan Hữu T2, Phan Thị Thu Q, Phan Thị Mỹ N2, hộ bà Phan Thị N gồm các thành viên ông Trịnh Văn R, anh Trịnh Văn Vũ L, hộ ông Võ Văn D gồm các thành viên bà Phan Thị N1, chị Võ Thị H1, anh Võ Quốc T5, chị Võ Thị Lệ T và hộ Phan Thị Thu T3 gồm các thành viên anh Phan Văn Đ, anh Phan Minh P và nhà của chị.
  • Theo chị biết về nguồn gốc thửa đất 2898 trước đây là thửa đất 801 của bà Dương Thị Q1 chuyển nhượng cho ông Trần Văn M, sau đó đất của ông M bị thi hành án thì bà H nhận chuyển nhượng lại.
  • Từ trước năm 1975 gia đình các hộ của bị đơn ở phía trong được bà Q1 là chủ đất cũ cho lối đi chiều ngang khoảng 05m làm lối đi ra đường công cộng và khi các chủ đất chuyển nhượng cho ông H3, ông M sử dụng thì vẫn chừa lối đi cho các hộ bên trong sử dụng, những người gần đất ai cũng biết.
  • Thời gian gần đây phía ông H3, bà H xây hàng rào lưới pê 40 thì xây dựng lấn vào phần đất lối đi, lối đi còn lại hiện nay chiều ngang là 2,6m là đất tranh chấp, cụ thể phía ranh bên bà H, bà H còn dành lối đi chiều ngang là 1,6m, phía ranh bên ông Võ Văn H3, ông H3 còn dành lối đi chiều ngang là 1m. Nay bà H yêu cầu các hộ bên trong trả lại phần lối đi này thì phía các hộ không đồng ý, vì phần lối đi đã có từ trước được chủ đất cũ cho sử dụng và hiện các hộ bên trong không có lối đi nào khác nên yêu cầu được công nhận phần lối đi là 57,5m² thuộc thửa đất số 2898 cho gia đình các hộ bên trong được quyền sử dụng đi chung.
  • Đối với phần ranh đất của thửa 2898 của bà H giáp ranh với thửa 798 của ông Phan Văn C, chị D1 có ý kiến: Cha mẹ của chị là ông Võ Văn D và bà Phan Thị N1 được cậu ruột là ông Phan Văn C cho một phần đất xây dựng nhà ở cơ bản trên thửa đất số 798 của ông C đứng tên quyền sử dụng. Quá trình giải quyết chị đại diện ông D, bà N1 không đồng ý di dời tài sản trả đất theo yêu cầu của bà H, lý do ranh đất hai bên được xác định bằng tường rào do bà H đã xây dựng từ năm 2015, không có việc bà H xây dựng tường rào chừa đất như ông M trình bày; đến tháng 6/2018 cha mẹ chị mới xây dựng nhà ở cơ bản trong đó có phần mái che, nhà tắm, nhà sau nằm giáp bên ngoài tường rào, bà H không còn sử dụng nên xác định không lấn ranh nên không đồng ý trả mà yêu cầu tiếp tục sử dụng và công nhận diện tích 92,5m² cho ông D, bà N1 được quyền sử dụng; việc ông C cho ông D, bà N1 phần đất cất nhà chưa tách quyền sử dụng.
  • Đối với phần ranh đất của thửa 2898 của bà H giáp ranh với thửa 797 của ông Phan Văn S, chị D1 có ý kiến: Thửa 797 của hộ ông S, quá trình sử dụng ông S cho con của ông là bà Phan Thị Thu T3 xây dựng nhà ở, giáp ranh với thửa đất 2898 của bà H nhưng việc xây dựng đúng ranh; tuy qua kết quả đo đạc thể hiện phần ranh đất diện tích 26,2m² thuộc thửa 2898 nhưng chị không đồng ý trả, lý do năm 2015 bà H xây dựng tường rào là xác định ranh giữa hai bên, phần diện tích 26,2m² bà H không còn sử dụng; đến năm 2019 bà T3 và chồng là ông Phan Văn Đ xây dựng nhà cơ bản trong đó chỗ nhà nhà bếp, nhà tắm, cây trồng trên phần đất diện tích 26,2m² là của hộ bà T3 nên không đồng ý di dời tài sản trả đất mà yêu cầu tiếp tục sử dụng và công nhận diện tích 26,2m² cho ông Đ, bà T3 được quyền sử dụng; việc ông S cho đất bà T3, ông Đ xây dựng nhà là chưa tách quyền sử dụng.

Ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, ông Võ Văn D, bà Phan Thị N chị Võ Thị Cẩm D1 trình bày: Thống nhất trình bày của chị D1 không bổ sung trình bày thêm.

Quá trình giải quyết những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn thống nhất ý kiến của người đại diện, không có tranh chấp khác.

Quá trình giải quyết những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn Đ, bà Huỳnh Kim N3, anh Phan Minh P, anh Võ Quốc T5 vắng mặt không có lời trình bày.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh đã xử:

  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Hồng H về buộc ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D, bà Phan Thị N1, chị Võ Thị H1, chị Võ Thị Cẩm D1, chị Võ Thị Lệ T, ông Trịnh Văn R, bà Nguyễn Thị X, anh Trịnh Văn Vũ L, anh Phan Hữu T1, anh Phan Hữu T2, chị Phan Thị Thu Q, chị Phan Thị Mỹ N2, bà Trần Thị C2, bà Phan Thị Thu T3, bà Phan Thị M1, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn Đ, bà Huỳnh Kim N3, anh Phan Minh P, anh Võ Quốc T5 trả lại phần đất lối đi diện tích 57,5m² thuộc thửa đất số 2898, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  • Buộc bà Trần Hồng H mở lối đi theo hiện trạng diện tích 57,5m² thuộc thửa 2898, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, ông Võ Văn D, bà Phan Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị N1, chị Võ Thị H1, chị Võ Thị Cẩm D1, chị Võ Thị Lệ T, ông Trịnh Văn R, bà Nguyễn Thị X, anh Trịnh Văn Vũ L, anh Phan Hữu T1, anh Phan Hữu T2, chị Phan Thị Thu Q, chị Phan Thị Mỹ N2, bà Trần Thị C2, bà Phan Thị Thu T3, bà Phan Thị M1, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn Đ, bà Huỳnh Kim N3, anh Phan Minh P, anh Võ Quốc T5 được quyền sử dụng.
  • Buộc ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D có nghĩa vụ liên đới bồi thường số tiền 8.625.000 đồng (Tám triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) cho bà Trần Hồng H.
  • Về tranh chấp quyền sử dụng đất là ranh đất:
    • + Không chấp nhận một phần yêu cầu của bà H về buộc ông Võ Văn D và bà Phan Thị N1 di dời tài sản trả lại đất diện tích 92,5m² thuộc thửa 2898, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
    • + Buộc bà Trần Hồng H giao cho ông Võ Văn D và bà Phan Thị N1 được quyền sử dụng diện tích đất 92,5m² thuộc thửa 2898, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
    • + Buộc ông Võ Văn D, bà Phan Thị N1 trả giá trị đất số tiền 13.875.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) cho bà Trần Hồng H.
    • + Không chấp nhận một phần yêu cầu của bà H về buộc bà Phan Thị Thu T3, ông Phan Văn Đ di dời tài sản trả lại đất diện tích 26,2m² thuộc thửa 2898, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
    • + Buộc bà Trần Hồng H giao cho bà Phan Thị Thu T3, ông Phan Văn Đ được quyền sử dụng diện tích đất 26,2 m² thuộc thửa 2898, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
    • + Buộc bà Phan Thị Thu T3, ông Phan Văn Đ trả giá trị đất số tiền 3.930.000 đồng (Ba triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng) cho bà Trần Hồng H.

Phần diện tích đất tranh chấp có tứ cận theo trích lục bản đồ địa chính kèm theo công văn số 77/CNHCN-KTĐC, ngày 07/7/2023 của Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/08/2024 bị đơn ông Phan Văn S, Phan Văn C, Phan Thị N, Võ Văn D; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị N1, chị Phan Thị Thu T3 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm: Ông Phan Văn S, Phan Văn C, Phan Thị N, Võ Văn D, Phan Thị Thu T3 không chấp nhận việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc ông bà liên đới bồi thường số tiền 8.625.000 đồng cho bà Trần Hồng H về lối đi, mà ông bà đồng ý liên đới bồi thường ½ số tiền 4.312.500 đồng. Không chấp nhận việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn ông Võ Văn D, bà Phan Thị N1 trả giá trị quyền sử dụng đất là 13.875.000 đồng cho bà Trần Hồng H mà ông D, bà N1 đồng ý bồi thường ½ số tiền là 6.937.500 đồng; Chị Phan Thị Thu T3 không chấp nhận việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc trả giá trị đất số 3.930.000 đồng cho bà Trần Hồng H, chị đồng ý trả cho bà Trần Hồng H số tiền 1.965.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự tự nguyện thỏa thuận như sau: Đối với lối đi diện tích 57,5 m² thuộc thửa 2898, tờ bản đồ số 8, tọa lạc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, người đại diện cho bà Trần Hồng H là ông Trần Văn M với người kháng cáo là ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D và bà Phan Thị N1 thống nhất chừa lối đi diện tích nêu trên cho hộ của ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D và bà Phan Thị N1 không phải trả tiền như án sơ thẩm buộc là 8.625.000 đồng; Đối với tranh chấp quyền sử dụng đất về ranh đất giữa bà Trần Hồng H với hộ của ông Võ Văn D bà Phan Thị N1 và hộ ông Phan Văn Đ bà Phan Thị Thu T3, người kháng cáo là ông Võ Văn D và bà Phan Thị Thu T3 tự nguyện rút đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa người đại diện cho nguyên đơn và người kháng cáo tự nguyện thỏa thuận với nhau về lối đi diện tích 57,5m² thửa số 2898, tờ bản đồ số 8, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh là phù hợp với quy định của pháp luật không trái đạo đức xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các bên đương sự; Đối với tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 92,5 m² giữa bà Trần Hồng H với ông Võ Văn D và bà Phạm Thị N4 và tranh chấp diện tích 26,2 m² giữa bà Trần Hồng H với bà Phan Thị Thu T3 và ông Phan Văn Đ. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay người kháng cáo là ông Võ Văn D và bà Phan Thị Thu T3 tự nguyện rút đơn kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đình chỉ yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa một phần Bản án sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn ông Phan Văn S, Phan Văn C, Phan Thị N, Võ Văn D; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị N1, chị Phan Thị Thu T3 kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét về yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Phan Văn S, Phan Văn C, Phan Thị N, Võ Văn D; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị N1, chị Phan Thị Thu T3, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ cũng như lời khai của các bên đương sự và tại phiên tòa hôm nay thể hiện: Thửa đất số 2898, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C do bà Trần Hồng H đứng tên quyền sử dụng, nguồn gốc của thửa đất này là do bà H nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn H2 và sử dụng từ năm 2012 đến nay. Đối với thửa đất 797 của hộ ông S và thửa đất 798 của hộ ông C bị vây bọc bởi các thửa đất khác, cụ thể là thửa đất số 2898 của bà Trần Hồng H và thửa đất số 800 của ông Võ Văn H3. Để đi ra đường công cộng thì các bị đơn cũng như những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn phải đi qua thửa đất số 2898 và thửa đất 800 này, lối đi qua 02 thửa đất này được các hộ bên trong sử dụng từ rất lâu của chủ đất cũ cho đi và hiện nay bà H cũng tạo điều kiện chừa lối đi cụ thể chiều ngang 1,6m, chiều dài từ lộ đến đến thửa đất 798 của ông C cho các hộ bên trong đi. Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết mở lối đi cho các hộ đang sinh sống bên trong, lối đi như hiện trạng để đi ra đường công cộng là phù hợp.

[3] Về quyền sử dụng đất phần lối đi: Xét thấy ông M đại diện cho bà H tự nguyện mở lối đi có diện tích 57,5 m² thuộc thửa 2898, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc ấp T, xã H, huyện C, các hộ bên trong như hộ ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D và bà Phan Thị Thu T3 không phải trả tiền; Việc tự nguyện thỏa thuận giữa ông Trần Văn M là người đại diện cho bà Trần Hồng H với người kháng cáo là ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D và bà Phan Thị Thu T3 là phù hợp với quy định của pháp luật không trái đạo đức xã hội, Hội đồng xét xử công nhận. Việc tòa án cấp sơ thẩm công nhận lối đi có diện tích 57,5 m² nêu trên cho các hộ bị đơn là không phù hợp với quy định của pháp luật. Diện tích 57,5m² vẫn thuộc sở hữu của bà Trần Hồng H.

[4] Xét về tranh chấp về ranh đất đối với ông Võ Văn D, bà Phan Thị N1, ông Phan Văn Đ, bà Phan Thị Thu T3:

Căn cứ quy định khoản 1 Điều 175 của Bộ Luật dân sự 2015 quy định về ranh giới giữa các bất động sản như sau: “Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp; Không được lấn chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung".

Căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng của chị H được cấp năm 2012 là do nhận chuyển nhượng, khi cấp quyền sử dụng cơ quan chuyên môn đã đo đạc lại xác định vị trí, chiều ngang, chiều dài, diện tích đất được cấp; căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng của hộ ông S, hộ ông C khi được cấp giấy quyền sử dụng đất đúng theo sử dụng ranh theo tư liệu và quá trình sử dụng đất các ông không khiếu nại về thủ tục, diện tích đất được cấp quyền sử dụng; hiện một phần đất thuộc thửa 798 của hộ ông Phan Văn C có cho hộ ông Võ Văn D, Phan Thị N1 quản lý, sử dụng cất nhà ở có ranh tiếp giáp với thửa 2898 đang tranh chấp diện tích 92,5m² và một phần đất thuộc thửa 797 của hộ ông Phan Văn S cho hộ bà Phan Thị Thu T3 quản lý sử dụng cất nhà ở có ranh tiếp giáp với thửa 2898 đang tranh chấp diện tích 26,2m².

Đối chiếu với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang và theo kết quả đo đạc số 77/CNHCN-KTĐC, ngày 07/7/2023, của Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện C xác định diện tích phần ranh đất diện tích 92,5m² (do ông Võ Văn D, Phan Thị N1 sử dụng) và diện tích 26,2 (do ông Phan Văn Đ, bà Phan Thị Thu T3 sử dụng) đều thuộc thửa 2898 thuộc quyền sử dụng của bà H.

Các bên đương sự sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã sử dụng ranh liền kề ổn định, không có ai khiếu nại việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể, chủ sử dụng đất hộ ông S, ông C chấp nhận quyền sử dụng đất được cấp, sử dụng ranh giới theo tư liệu và phía bà H xác định không có móc giới thoả thuận ranh giữa các bên trong và phần diện tích 92,5m² và 26,2m² được xác định thuộc thửa 2898 thuộc quyền sử dụng của bà H nên không có cơ sở xem xét phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của hộ ông S, ông C, cụ thể diện tích 92,5m² và 26,2m² không thuộc quyền sử dụng của ông D, bà N1, ông Đ, bà T3.

Xét thấy phần ranh đất tranh chấp được xác định thuộc quyền sử dụng của bà H, quá trình sử dụng đất năm 2015 bà xây dựng chân tường rào giữ đất, còn chừa lại phần đất bên ngoài (đất tranh chấp) và biết hộ ông D, bà N1, ông Đ, bà T3 xây dựng nhà ở cơ bản có phần nhà sau, mái che, nhà tắm, cây trồng nằm trên ranh đất của bà nhưng không ngăn cản, không có tranh chấp nên xét việc xây dựng tài sản trên đất của các hộ là vô ý và hiện phần tài sản là nhà sau, mái che, nhà tắm là một phần không thể tách rời nhà cơ bản nếu thảo dở sẽ thiệt hại nhiều so với giá trị tranh chấp, do đó cần thiết để các hộ đang sử dụng được tiếp tục sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nhưng phải có nghĩa vụ trả giá trị đất cho bà H là phù hợp hơn, đảm bảo quyền lợi của các bên.

Xét thấy thửa đất 798 của ông C và bà X được quyền sử dụng, ông C, bà X cho ông Võ Văn D và bà Phan Thị N1 một phần đất cất nhà ở cơ bản nhưng chưa tách quyền sử dụng, việc xây dựng nhà có phần tài sản nhà sau, nhà tắm, mái che nằm trên ranh đất tranh chấp thì do ông D, bà N1 quyết định; ông C, bà X không tranh chấp gì nên không xét.

Xét thấy thửa đất 797 của ông S, bà C2 được quyền sử dụng, năm 2018 cho bà T3, ông Đ một phần đất cất nhà ở cơ bản nhưng chưa tách quyền sử dụng, việc xây dựng nhà có phần nhà sau, nhà tắm, cây trồng nằm trên ranh đất tranh chấp, phần tài sản này do bà T3, ông Đ quyết định; ông S, bà C2 không tranh chấp gì nên không xét.

Từ đó tòa án cấp sơ thẩm công nhận diện tích 92,5 m² cho ông D, bà N1 và công nhận diện tích 26,2 m² cho ông Đ, bà T3 đất thuộc thửa 2898, tờ bản đồ số 8, ở ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Buộc các ông bà trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà Trần Hồng H là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay ông Võ Văn D và bà Phan Thị Thu T3 là người kháng cáo rút đơn kháng cáo, Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu kháng cáo của ông D và bà T3.

[5] Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật cũng như nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Phan Văn S, Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị N1, chị Phan Thị Thu T3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, phần tranh chấp lối đi. Ông Võ Văn D; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị N1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm; Chị Phan Thị Thu T3 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm phần tranh chấp quyền sử dụng đất.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Hồng H.

Ghi nhận sự tự nguyện của người đại diện của bà Trần Hồng H là ông Trần Văn M.

Bà Trần Hồng H tự nguyện mở lối đi theo hiện trạng diện tích 57,5m² thuộc thửa 2898, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, ông Võ Văn D, bà Phan Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị N1, chị Võ Thị H1, chị Võ Thị Cẩm D1, chị Võ Thị Lệ T, ông Trịnh Văn R, bà Nguyễn Thị X, anh Trịnh Văn Vũ L, anh Phan Hữu T1, anh Phan Hữu T2, chị Phan Thị Thu Q, chị Phan Thị Mỹ N2, bà Trần Thị C2, bà Phan Thị Thu T3, bà Phan Thị M1, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn Đ, bà Huỳnh Kim N3, anh Phan Minh P, anh Võ Quốc T5 được quyền sử dụng (Các đương sự nêu trên không phải trả tiền hạn chế quyền sử dụng đất diện tích nêu trên của bà Trần Hồng H).

- Về tranh chấp quyền sử dụng đất là ranh đất: Đình chỉ yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn D và bà Phan Thị Thu T3.

Phần diện tích đất tranh chấp có tứ cận theo trích lục bản đồ địa chính kèm theo công văn số 77/CNHCN-KTĐC, ngày 07/7/2023 của Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Về án phí phúc thẩm: Ông Phan Văn S, Phan Văn C, Phan Thị N, Võ Văn D; bà Phan Thị N1; Chị Phan Thị Thu T3 không phải chịu. Ông D, bà N1 là người cao tuổi được miễn án phí dân sự phúc thẩm phần tranh chấp quyền sử dụng đất; Bà Phan Thị Thu T3 phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền án phí 300.000 đồng mà chị T3 đã nộp theo biên lai số 0004246 ngày 16/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Cầu Ngang;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • -Chi cục THADS huyện Cầu Ngang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

  • Số bản án: 91/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger