Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 91/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12-3-2025

V/v: Tranh chấp ly hôn giữa bà Nguyễn

Thị Hường và ông Đỗ Đăng Mẫn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Lan

Ông Đỗ Quang Chung

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Thái Sơn - Thư ký Toà án nhân dân thành

phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên

tòa: Bà Đinh Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 526/2024/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Tập thể D, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt

- Bị đơn: Ông Đỗ Đăng M, sinh năm 1974; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Tập thể D, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 30-12-2024, tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà và ông Đỗ Đăng M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định ngày 13 tháng 12 năm 1997. Sau khi kết hôn vợ chồng ông bà chung sống hòa thuận hạnh phúc đến khoảng tháng 08-2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, vợ chồng không nói chuyện, không quan tâm và không có trách nhiệm với nhau. Vợ chồng ông bà đã sống ly thân từ tháng 10-2021 cho đến nay. Bản thân bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà có nguyện vọng xin được ly hôn ông Đỗ Đăng M.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có một con chung là cháu Đỗ Đăng A (giới tính: Nam), sinh ngày 22-9-1998, hiện nay cháu Đăng A đã trưởng thành, tự lập, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và vay nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 09-01-2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là ông Đỗ Đăng M trình bày: Về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như bà Nguyễn Thị H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hòa thuận đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do kinh tế gia đình giữa hai vợ chồng không được rõ ràng, ông không được biết về kinh tế gia đình, vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2021 cho đến nay, vợ chồng không quan tâm và không có trách nhiệm gì với nhau. Nay bà H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông xác nhận không còn tình cảm vợ chồng, tuy nhiên ông không đồng ý ly hôn vì thời điểm này chưa thích hợp, ông muốn lo cho con chung lập gia đình xong.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có một con chung là cháu Đỗ Đăng A (giới tính: Nam), sinh ngày 22-09-1998, hiện nay cháu Đăng A đã trưởng thành, tự lập, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và vay nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 23-01-2025 tại tổ dân phố số A, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định: Ông không được biết về tình trạng mâu thuẫn giữa bà H và ông M, trong quá trình chung sống vợ chồng ông bà có 01 con chung là cháu Đỗ Đăng A, sinh năm 1998. Nay bà H khởi kiện xin ly hôn đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải cho ông bà, trường hợp hòa giải không thành đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá:

Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các qui định của pháp luật.

Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông M là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau về kinh tế, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Nay hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H. Về con chung: Cháu Đỗ Đăng A đã trưởng thành tự lập, ông bà không có yêu cầu đề nghị gì, vì vậy đề nghị HĐXX không xem xét, giải quyết. Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà Bà H1 là nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Đỗ Đăng M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định vào ngày 13 tháng 12 năm 1997 nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Đỗ Đăng M là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hòa thuận đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không quan tâm và không có trách nhiệm gì với nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10-2021 cho đến nay. Nay bà Nguyễn Thị H có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho ông bà được ly hôn. Ông Đỗ Đăng M không đồng ý ly hôn nhưng ông cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn và không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị H và ông Đỗ Đăng M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị H.

[2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Đỗ Đăng M đều xác định vợ chồng có một con chung là Đỗ Đăng A (giới tính: Nam), sinh ngày 22-09-1998, hiện nay cháu Đỗ Đăng A đã trưởng thành, tự lập. Ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[3] Về tài sản chung và vay nợ chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Đỗ Đăng M đều trình bày vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Xử ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Đỗ Đăng M.
  2. Án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Đối trừ khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp tại biên lai số 0002549 ngày 31-12-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định, bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H và ông Đỗ Đăng M có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định;
  • - UBND xã Nghĩa An, huyện
  • Nam Trực, tỉnh Nam Định
  • (ĐKKH năm 1997)
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 91/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HNGĐ Nguyễn Thị Hường - Đỗ Đăng Mẫn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger