TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2025/DS-PT
Ngày 03 - 3 - 2025
V/v tranh chấp dân sự thừa
kế quyền sử dụng đất, yêu
cầu tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu và đòi lại tài
sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng
Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt
Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 tháng 01, ngày 13 tháng 02, ngày 24 tháng 02 và ngày 03 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 576/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp dân sự thừa kế quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 111/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 679/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Anh Nguyễn Quang B, sinh năm 1995.
- Anh Nguyễn Anh Q, sinh năm 2002.
Cùng địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q: Anh Nguyễn Trường T, sinh năm 1997; Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn Đ: Ông Trần Ngô Vũ P, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khóm Phú Mỹ Đ, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Bé T1, sinh năm 1957.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1962.
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964.
Cùng địa chỉ: Khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Bé T1, bà Nguyễn Thị Bích N, bà Nguyễn Thị H: Ông Trần Ngô Vũ P, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khóm Phú Mỹ Đ, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Đặng Thị Kim C, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Văn phòng C2.
Địa chỉ: Số B, đường N, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Nguyễn Thị Bé T1, sinh năm 1957.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Bích N, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
(Anh T, ông P có mặt; Bà C, Văn phòng C2 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q do anh Nguyễn Trường T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Phần đất tranh chấp diện tích 4.317m², thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc của cha mẹ ông Nguyễn Đông X, ông X được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa AA 022082, số vào sổ cấp GCN số: 01082 QSDĐ/1002/QĐ-UB vào ngày 14/6/2004.
Đến ngày 12/01/2014 ông X chết không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của ông X gồm: Vợ Đặng Thị Kim C, con Nguyễn Quang B và Nguyễn Anh Q.
Sau đó anh B, anh Q thực hiện thủ tục thừa kế sang tên quyền sử dụng đất nêu trên thì mới biết được những người thuộc hàng thừa kế thứ hai của ông X gồm: Bà Nguyễn Thị Bé T1, bà Nguyễn Thị Bích N, bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn Đ đã tự ý thỏa thuận lập Văn bản phân chia tài sản thừa kế do Văn phòng C2 công chứng số 25/SCC, quyển số: 01 VPCC/HĐ-GD 2015 ngày 22/01/2015. Với nội dung cho ông Đ được quyền thừa kế toàn bộ di sản của ông X để lại là phần đất diện tích 4.317m², thửa đất 89. Trong khi đó những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông X đều không hay biết, không ký tên vào Văn bản phân chia nêu trên.
Đến ngày 05/02/2015 ông Đ được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 180902, diện tích 4.317m², thửa đất 89, tờ bản đồ số 9. Nay anh B và anh Q yêu cầu giải quyết như sau:
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 180902, diện tích 4.317m², thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Đ vào ngày 05/02/2015.
- Tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản do Văn phòng C2 công chứng số 25/SCC, quyển số: 01 VPCC/HĐ-GD/2015 ngày 22/01/2015 là vô hiệu.
- Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật phần di sản của ông X diện tích 4.317m², thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Anh B, anh Q yêu cầu được nhận toàn bộ phần đất của ông X và cùng đồng sử dụng diện tích 4.317m², thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn thay đổi yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do ông Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 05/12/2015 để cấp lại cho anh B, anh Q. Đồng thời tự nguyện trả lại 21 chỉ vàng 24 Kra cố đất mà ông Đ, bà N và bà H trả cho ông K nhận cố đất.
Anh B, anh Q thống nhất Sơ đồ đo đạc ngày 23/8/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, hiện trạng trên đất không có thay đổi không yêu cầu đo đạc lại, thống nhất Biên bản định giá ngày 20/10/2023.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Cha là cụ Nguyễn Văn T2 (chết năm 1968) và mẹ cụ Trần Thị L (chết năm 1993) có 05 người con gồm: Bà Nguyễn Thị Bé T1, bà Nguyễn Thị Bích N, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đông X và ông Nguyễn Văn Đ. Nguồn gốc đất của cụ T2 và cụ L để lại diện tích đo đạc thực tế 4.162,2m², thửa đất 89, tờ bản đồ số 9. Năm 1992 cụ L cố đất cho ông K giá 21 chỉ vàng 24 Kra, thời hạn cố 30 năm, sau khi cụ L chết để cho ông X đứng tên quyền sử dụng đất có sự thống nhất của các chị, em, ông X có vợ là bà Đặng Thị Kim C và con là Nguyễn Quang B, Nguyễn Anh Q.
Năm 2014 ông X chết các chị, em thống nhất để ông Đ đứng tên quyền sử dụng đất giữ lại tài sản của cha mẹ, không phải là tài sản của ông X, khi ông Đ đứng tên không cho vợ và con ông X biết. Ông Đ đồng ý chia đều 05 phần cho bà T1, bà N, ông X, bà H và ông Đ, không đồng ý để vợ và con ông X thừa kế diện tích đo đạc thực tế 4.162,2m², lúc chuộc đất bà N bỏ ra 10,5 chỉ vàng 24 Kra, bà H 5,25 chỉ vàng 24 Kra và ông Đ 5,25 chỉ vàng 24 Kra, nên khi chia người nào nhận thừa kế phải trả lại 21 chỉ vàng 24 Kra theo tỷ lệ.
Ông Đ yêu cầu chia thừa kế diện tích 4.162,2m² thành 05 phần, ông được chia 832,44m² và yêu cầu chia 21 chỉ vàng 24 Kra thành 05 phần, người nào nhận thừa kế trả lại 5,25 chỉ vàng 24 Kra.
Hiện nay ông Đ đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính, không cầm cố, thế chấp cho cá nhân, tổ chức nào.
Ông Đ thống nhất Sơ đồ đo đạc ngày 23/8/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, không yêu cầu đo đạc lại. Hiện trạng đất trồng lúa, không có cây trồng hay công trình xây dựng, nhà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bé T1 trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông Nguyễn Văn Đ, bà T1 yêu cầu chia thừa kế diện tích 4.162,2m² thành 05 phần, bà được chia 832,44m².
Bà T1 thống nhất Sơ đồ đo đạc ngày 23/8/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, không yêu cầu đo đạc lại. Hiện trạng đất trồng lúa, không có cây trồng hay công trình xây dựng, nhà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông Nguyễn Văn Đ, bà H yêu cầu chia thừa kế diện tích 4.162,2m² thành 05 phần, bà được chia 832,44m² và yêu cầu chia 21 chỉ vàng 24 Kra thành 05 phần, người nào nhận thừa kế trả lại 5,25 chỉ vàng 24 Kra.
Bà H thống nhất Sơ đồ đo đạc ngày 23/8/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, không yêu cầu đo đạc lại. Hiện trạng đất trồng lúa, không có cây trồng hay công trình xây dựng, nhà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích N trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông Nguyễn Văn Đ, bà N yêu cầu chia thừa kế diện tích 4.162,2m² thành 05 phần, bà được chia 832,44m² và yêu cầu chia 21 chỉ vàng 24 Kra thành 05 phần, người nào nhận thừa kế trả lại 10,5 chỉ vàng 24 Kra.
Bà N thống nhất Sơ đồ đo đạc ngày 23/8/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, không yêu cầu đo đạc lại. Hiện trạng đất trồng lúa, không có cây trồng hay công trình xây dựng, nhà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim C trình bày: Bà C là vợ của ông Nguyễn Đông X từ chối nhận phần di sản thừa kế, thống nhất giao cho anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q được quyền sử dụng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2: Được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng không có ý kiến.
Tại quyết định bản án dân sự sơ thẩm số: 111/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử:
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q.
- Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q diện tích 4.317m² (diện tích đo đạc thực tế 4.162,2m²), thửa số 89, tờ bản đồ số 09, mục đích sử dụng đất lúa, tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Buộc ông Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ giao cho anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q diện tích 4.317m² (diện tích đo đạc thực tế 4.162,2m²), thửa số 89, tờ bản đồ số 09, mục đích sử dụng đất lúa, tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Trường hợp ông Nguyễn Văn Đ không thực hiện thì anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách, chuyển, điều chỉnh đối với diện tích đất đã được Tòa án công nhận quyền sử dụng theo bản án đã tuyên.
- Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau: BX 180902 vào sổ cấp CH03258 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 05/02/2015 cho ông Nguyễn Văn Đ diện tích 4.317m² (diện tích đo đạc thực tế 4.162,2m²), thửa số 89, tờ bản đồ số 09, mục đích sử dụng đất lúa, tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp để cấp lại cho anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q theo bản án đã tuyên.
(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2019 và Sơ đồ đo đạc khu đất tranh chấp ngày 23/8/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
- Chấp nhận yêu cầu về việc tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản do Văn phòng C2 công chứng số 25/SCC, quyển số 01 VPCC/HĐ-GD/2015 ngày 22/01/2015 là vô hiệu.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn Đ, yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Bé T1, bà Nguyễn Thị Bích N, bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu chia thừa kế diện tích 4.317m² (diện tích đo đạc thực tế 4.162,2m²), thửa số 89, tờ bản đồ số 09, mục đích sử dụng đất lúa, tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Buộc anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn Đ 5,25 chỉ vàng 24 Kra, bà Nguyễn Thị Bích N 10,5 chỉ vàng 24 K, bà Nguyễn Thị H 5,25 chỉ vàng 24 Kra.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
Anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 7.875.000 đồng được khấu trừ vào số tiền 6.475.500 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000099, ngày 02/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Anh B, anh Q phải nộp thêm số tiền 1.399.500 đồng (Một triệu ba trăm chín mươi chín nghìn năm trăm đồng).
Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Bích N, bà Nguyễn Thị Bé T1, bà Nguyễn Thị H thuộc trường hợp là thân nhân liệt sĩ nên được miễn nộp.
- Về chi phí tố tụng khác:
Chi phí định giá tài sản 1.000.000 đồng, anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q (đã nộp đủ và chi xong). Nên ông Đ, bà N, bà T1, bà H phải trả lại cho anh B, anh Q.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/8/2024 bà Nguyễn Thị Bích N kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh. Bà N không đồng ý với bản án sơ thẩm, thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, diện tích 4.317m², đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc do cha mẹ bà để lại thì phải chia đều cho 05 người con, mỗi người một phần.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Trần Ngô Vũ P là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Bích N, bà Nguyễn Thị Bé T1, bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Bà N vẫn giữ kháng cáo, cụ T2 sống với cụ L có con là bà T1, bà N, bà H, ông X và ông Đ, sau khi cụ T2 chết thì cụ L sống với cụ Huỳnh Văn C1 (chết không biết năm) có con là Huỳnh Văn H1 và Huỳnh Văn T3 (chết năm 2023) có vợ Nguyễn Thị D, con Huỳnh Văn T4, Huỳnh Văn T4 Em và Huỳnh Thị Hồng N1. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông H1 và người thừa kế của ông T3 vào tham gia người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm tố tụng, ông Đ làm thủ tục thừa kế đứng tên quyền sử dụng đất sợ ông K người nhận cố đất chiếm đoạt, ông Đông định sau này chia cho anh B, anh Q con của ông X một phần, bà N yêu cầu chia thừa kế để làm hương quả. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.
Anh Nguyễn Trường T là người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q trình bày: Không thống nhất kháng cáo của bà N, ông X kê khai, đăng ký được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định, phần đất tranh chấp không phải di sản thừa kế của cụ L. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Bà N trình bày nguồn gốc đất cấp chung cho anh em để ông X đứng tên quyền sử dụng đất, không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh đất chung của anh em. Bà N kháng cáo yêu cầu sửa bản án, tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của bà N thay đổi yêu cầu hủy bản án là không phù hợp. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu chia thừa kế mà không buộc chịu án phí là thiếu sót, ông Đ có nghĩa vụ giao đất mà không ghi mốc giới cụ thể không đảm bảo việc thi hành án và buộc anh B, anh Q trả lại vàng cố đất là không phù hợp, trong khi anh B, anh Q tự nguyện trả lại vàng cố đất. Mặc dù, có thiếu sót không làm thay đổi nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 111/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bích N nộp trong thời hạn luật định. Căn cứ Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai chỉ có anh T, ông P có mặt; Bà C, Văn phòng C2 vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo luật định.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà N không đồng ý với bản án sơ thẩm thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, diện tích 4.317m², đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc do cha mẹ của bà để lại thì phải chia đều cho 05 người con, mỗi người một phần. Tại phiên tòa phúc thẩm ông P là người đại diện theo ủy quyền của bà N trình bày yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Xét anh B, anh Q yêu cầu được chia toàn bộ diện tích 4.317m² (đo đạc thực tế 4.162,2m²) và cùng đồng sử dụng thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Về nguồn gốc diện tích 4.317m² (đo đạc thực tế 4.162,2m²), thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp các đương sự trình bày của cụ T2 (chết năm 1968) và cụ L (chết năm 1993) để lại, cụ L sống với cụ T2 có con là bà T1, bà H, bà N, ông X và ông Đ. Năm 1995 ông X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 4.325m² và cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 14/6/2004.
Theo trích lục khai tử ông X chết vào ngày 12/01/2014, trước khi chết ông X có vợ và con thể hiện tại giấy khai sinh của anh B, anh Q cha là ông X và mẹ là bà C. Ngoài ra, ông X không có con nuôi hoặc con riêng, trước khi chết ông X không để lại di chúc.
Ông Đ em của ông X làm đơn có mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông X. Vào ngày 24/12/2014 Ủy ban nhân dân thị trấn M thông báo về việc mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất của ông X.
Ngày 22/01/2015 bà T1, bà N, bà H và ông Đ làm Văn bản phân chia tài sản thừa kế thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, diện tích 4.317m² của ông X cho ông Đ được Văn phòng C2. Nội dung ông X không có ai là vợ; cha, mẹ ruột, cha, mẹ nuôi, con ruột, con nuôi nào khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Thống nhất phân chia tài sản của ông X để lại theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 022082; Vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01082 QSDĐ/1002/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/6/2004 thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, diện tích 4.317m². Đến ngày 05/02/2015 ông Đ được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Việc bà T1, bà N, bà H và ông Đ thuộc hàng thừa kế thứ hai của ông X lập Văn bản phân chia tài sản thừa kế thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, diện tích 4.317m² của ông X là không đúng quy định của pháp luật và khi lập Văn bản phân chia tài sản thừa kế hàng thừa kế thứ nhất của ông X không hay biết. Do đó, diện tích 4.317m² của ông X để lại thuộc hàng thừa kế thứ nhất là bà C, anh B và anh Q, do bà C từ chối nhận di sản thống nhất giao cho anh B, anh Q được quyền sử dụng, việc anh B, anh Q yêu cầu chia thừa kế diện tích 4.317m² (đo đạc thực tế 4.162,2m²) cùng sử dụng là có cơ sở. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của anh B, anh Q mà không buộc chịu án phí là không đúng với điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và buộc ông Đ có nghĩa vụ giao lại đất cho anh B, anh Q quản lý, sử dụng nhưng không ghi mốc giới cụ thể không đảm bảo cho việc thi hành án, nên sửa bản án cho phù hợp với quy định pháp luật và đảm bảo việc thi hành án.
[2.2] Xét anh B, anh Q yêu cầu tuyên bố Văn bản phân chia tài sản thừa kế thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, diện tích 4.317m² được Văn Phòng C2 công chứng số: 25/SCC, quyển số: 01 VPCC/HĐ-GD/2015 ngày 22/01/2015 vô hiệu. Xét thấy, bà T1, bà H, bà N và ông Đ thuộc hàng thừa kế thứ hai, trong khi hàng thừa kế thứ nhất của ông X vẫn còn như vừa phân tích nêu trên. Việc Văn phòng C2 phân chia tài sản thừa kế thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, diện tích 4.317m² của ông X vào ngày 22/01/2015 là không đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, anh B, anh Q yêu cầu tuyên bố vô hiệu là phù hợp.
[2.3] Xét anh B, anh Q yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 4.317m², thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Đ vào ngày 05/02/2015. Xét thấy, tại Công văn số: 13839/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT ngày 11/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp thông tin: Thửa đất số 89, tờ bản đồ số 9 (bản đồ lưới), đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ, số phát hành BX 180602, số vào sổ CH 03258 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 05/02/2015. Tuy nhiên, Văn bản phân chia tài sản thừa kế thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, diện tích 4.317m² được Văn phòng C2 công chứng số: 25/SCC, quyển số: 01 VPCC/HĐ-GD/2015 ngày 22/01/2015 vô hiệu và yêu cầu chia thừa kế của anh B, anh Q được chấp nhận. Vì vậy, đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đ vào ngày 05/12/2015 để cấp lại cho anh B, anh Q cũng đảm bảo quy định pháp luật.
[3] Xét yêu cầu phản tố của ông Đ yêu cầu chia thừa kế diện tích 4.317m² (đo đạc thực tế 4.162,2m²), thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thành 05 phần, ông được chia 832,44m² và yêu cầu chia 21 chỉ vàng 24 Kra thành 05 phần, người nào nhận thừa kế trả lại cho ông 5,25 chỉ vàng Kra. Xét thấy, diện tích 4.317m² (đo đạc thực tế 4.162,2m²), thửa đất 89, tờ bản đồ số 9 của ông X, khi ông X chết thì hàng thừa kế thứ nhất được hưởng thừa kế, phần đất tranh chấp không phải là di sản của cụ L để lại, việc ông Đ thuộc hàng thừa kế thứ hai yêu cầu chia thừa kế là không có cơ sở. Tại Tòa án cấp sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của anh B, anh Q đồng ý trả lại 5,25 chỉ vàng 24 Kra cho ông Đ đã cùng bà N, bà H trả cho ông K 21 chỉ vàng 24 Kra nhận cố đất, đây là sự tự nguyện của anh B, anh Q không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên ghi nhận sự tự nguyện này là phù hợp.
[4] Xét yêu cầu độc lập của bà N, bà T1, bà H yêu cầu chia thừa kế diện tích 4.317m² (đo đạc thực tế 4.162,2m²), thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thành 05 phần, các bà được chia 832,44m² và bà N, bà H yêu cầu chia 21 chỉ vàng 24 Kra thành 05 phần, người nào nhận thừa kế trả lại cho bà N 10,5 chỉ vàng K1, trả lại cho bà H 5,25 chỉ vàng 24 Kra. Xét thấy, yêu cầu của bà N, bà T1, bà H là không có cơ sở như phân tích nêu trên. Tại Tòa án cấp sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của anh B, anh Q đồng ý trả lại 10,5 chỉ vàng 24 Kra cho bà N, trả lại cho bà H 5,25 chỉ vàng 24 Kra đã cùng ông Đ trả cho ông K 21 chỉ vàng 24 Kra nhận cố đất, đây là sự tự nguyện của anh B, anh Q không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên ghi nhận sự tự nguyện này là phù hợp.
[5] Về công sức đóng góp, cải tạo đất: Các đương sự không có yêu cầu, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.
[6] Về cây trồng, tài sản trên đất: Các đương sự không có yêu cầu, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.
[7] Tại phiên tòa phúc thẩm ông P là đại diện theo ủy quyền của bà N trình bày: Sau khi cụ T2 chết thì cụ L sống với cụ C1 (chết không biết năm) có con là ông H1 và ông T3 (chết năm 2023) có vợ là bà D và con anh T4, anh Tuấn E, chị N1. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông H1 và người thừa kế của ông T3 vào tham gia người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm tố tụng. Từ những phân tích nêu trên, phần đất tranh chấp không phải là di sản của cụ L để lại, nên việc ông P cho rằng không đưa ông H1 và người thừa kế của ông T3 vào tham gia tố tụng là không có cơ sở chấp nhận.
[8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy kháng cáo của bà N là không có căn cứ chấp nhận. Mặc dù, Tòa án cấp sơ thẩm có thiếu sót không làm thay đổi nội dung vụ án, nên sửa một phần bản án sơ thẩm số: 111/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh cho phù hợp pháp luật và đảm bảo thi hành án.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, không chấp nhận kháng cáo của bà N, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự thống nhất giá trị đất tranh chấp 105.000 đồng/m² và 01 chỉ vàng 24 Kra là 7.500.000 đồng để làm cơ sở tính án phí. Anh B, anh Q phải chịu 21.481.240 đồng án phí dân sự sơ thẩm được chia tài sản và phải chịu 7.875.000 án phí nghĩa vụ trả lại tài sản, tổng cộng 29.356.240 đồng (làm tròn 29.356.000 đồng), được khấu trừ vào số tiền 6.475.500 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000099, ngày 02/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Anh B, anh Q phải nộp tiếp số tiền 22.880.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà N không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bà N là người cao tuổi và thân nhân liệt sĩ nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bích N.
- Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 111/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q.
- - Tuyên bố Văn bản phân chia tài sản thừa kế do Văn phòng C2 công chứng số: 25/SCC, quyển số: 01 VPCC/HĐ-GD/2015 ngày 22/01/2015 là vô hiệu.
- - Chấp nhận chia thừa kế cho anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q diện tích 4.317m² (đo đạc thực tế 4.162,2m²), thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- - Buộc ông Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ giao lại cho anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q diện tích 4.317m² (đo đạc thực tế 4.162,2m²), trong phạm vi các mốc M1 - M2 - M3 - M4 - M5 - M6 - M7 - M8 - M9 - M10 - M11 về M1, thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- - Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa: BX 180902, số vào sổ cấp GCN: CH03258 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 05/02/2015 cho ông Nguyễn Văn Đ diện tích 4.317m² (đo đạc thực tế 4.162,2m²), thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước để cấp lại cho anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q.
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký, điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2019 và Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 23/8/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu chia thừa kế diện tích 4.317m² (đo đạc thực tế 4.162,2m²) thành 05 phần, ông Đ được chia diện tích 832,44m², thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Bé T1, bà Nguyễn Thị Bích N, bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu chia thừa kế diện tích 4.317m² (đo đạc thực tế 4.162,2m²) thành 05 phần, mỗi người được chia diện tích 832,44m², thửa đất 89, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q trả cho ông Nguyễn Văn Đ 5,25 chỉ vàng 24 Kra, bà Nguyễn Thị Bích N 10,5 chỉ vàng 24 K, bà Nguyễn Thị H 5,25 chỉ vàng 24 Kra.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q phải chịu 29.356.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 6.475.500 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000099, ngày 02/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Anh B, anh Q phải nộp tiếp số tiền 22.880.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Bích N, bà Nguyễn Thị Bé T1, bà Nguyễn Thị H được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí.
- Về chi phí tố tụng khác: Chi phí định giá tài sản số tiền 1.000.000 đồng do anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q nộp tạm ứng và đã chi xong. Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Bích N, bà Nguyễn Thị Bé T1, bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lại anh B, anh Q số tiền 1.000.000 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Quang B, anh Nguyễn Anh Q.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Bích N được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Dững |
Bản án số 91/2025/DS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự thừa kế quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và đòi lại tài sản
- Số bản án: 91/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự thừa kế quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang B, Nguyễn Anh Q - Nguyễn Văn Đ
