|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2025/HS-ST
Ngày: 28-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phi Hùng;
Bà Vương Thị Khánh Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Cảnh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2025/HSST ngày 09/01/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXX-HS ngày 06/02/2025 đối với bị cáo:
Trần Lê Minh T (tên gọi khác: Đ), sinh năm 2000 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký HKTT: 160/22/49, đường C, khu phố A, phường T (số cũ là khu phố C, phường Q), thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Lê H và bà Trần Thị T1; gia đình có ba anh em, bị cáo là con út; bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án: Không. Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/7/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (có mặt)
- Bị hại: Chị Nguyễn Lương Gia H1, sinh năm: 2000.
Địa chỉ: Số G, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 14/7/2024, Trần Lê Minh T đến phòng trọ A2 thuộc tổ A khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (do chị Ngô Hoàng Yến N thuê trọ) để tìm chị Nguyễn Thị Ngọc H2 (sinh năm 2004, thường trú: Ấp P, xã B, M, tỉnh Bến Tre – là bạn gái của T) và lấy quần áo của T gửi tại phòng trọ của chị N. Tại đây, T thấy chị H2 đang ngồi nhậu cùng với chị N và các anh Nguyễn Quốc H3, anh Nguyễn Nhựt H4, chị Nguyễn Lương Gia H1. Sau khi lấy quần áo, T đi ra đến cửa nhà trọ thì thấy chị H1 nói với chị H2 về việc chị H2 không hợp với T. Sau đó T về nơi ở tại nhà nghỉ “Minh Trí” và nhớ lại sự việc H1 nói với H2 nêu trên và cho rằng H1 sẽ tiếp tục nói xấu T với mọi người nên T quay lại tìm đánh H1.
Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đến phòng trọ của chị N thì thấy chị H2 và chị H1 ngồi dưới nền nhà. T cầm mũ bảo hiểm đến đánh liên tiếp 03 cái vào đầu chị H1 làm mũ bảo hiểm bị vỡ. T tiếp tục dùng mũ bảo hiểm bị vỡ có các mảnh sắc đánh tiếp một cái nữa thì trúng vào thái dương trái của chị H1 gây thương tích. Thấy vậy, chị H2, anh H3, anh H4 vào can ngăn kéo T ra. Trong lúc mọi người can ngăn T thì T nhìn thấy 01 con dao dài 22cm, cán gỗ dài 11cm, lưỡi dài 11cm, bản rộng 1,5cm ở dưới nền phòng trọ, T liền vứt mũ bảo hiểm và nhặt con dao nêu trên và đi đến đâm 01 nhát vào hông bên trái của chị H1 gây thương tích rồi vứt dao dưới nền phòng trọ. Sau đó T về nhà nghỉ “Minh Trí” còn chị H1 được anh H4 đưa đến Bệnh viên T Mỹ I Đồng Nai điều trị thương tích.
Quá trình điều tra Trần Lê Minh T khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng:
- - 01 (Một) 01 con dao dài 22cm, cán gỗ dài 11cm, lưỡi dài 11cm, bản rộng 1,5cm Trần Lê Minh T dùng gây thương tích cho chị H1.
- - 01 (Một) mũ bảo hiểm màu trắng - đen bị vỡ do Trần Lê Minh T dùng để đánh chị H1 gây thương tích. (bút lục: 99)
- - 01 (Một) USB ghi nhận thời điểm Trần Lê Minh T cầm theo mũ bảo hiểm màu trắng đi vào trong phòng trọ A2 (lưu giữ kèm hồ sơ).
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0714/KLTTCT ngày 25/7/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y, kết luận anh Trần Ngọc T2 bị tổn thương như sau:
- - Vết thương thái dương trái kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%
- - Vết thương ngực bên bên trái kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%
- - Vết mổ dẫn lưu ngực bên bên trái kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%
- - Vết thương nhu mô phổi trái đã được phẫu thuật dẫn lưu. Tỷ lệ: 10%
- - Không định tỷ lệ cho chấn thương đầu mặt đã khỏi hiện không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng.
Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám đính pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Lương Gia H1 tại thời điểm giám định là: 13% (Mười ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.
Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.
Về trách nhiệm dân sự: Trần Lê Minh T đã bồi thường số tiền 8.400.000₫ (Tám triệu bốn trăm nghìn đồng) chi phí điều trị cho chị Nguyễn Lương Gia H1 và bị hại H1 đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt đối với T.
Tại Cáo trạng số: 63/CT-VKSBH ngày 08/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Lê Minh T tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;
- Áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Trần Lê Minh T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của bị hại chị Nguyễn Lương Gia H1 tại phiên toà. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị hại; Trong giai đoạn điều tra chị H1 đã có lời khai, ngoài ra chị đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó đã có căn cứ để kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 14/7/2024, tại phòng trọ A2 thuộc tổ A khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (do chị Ngô Hoàng Yến N thuê trọ), do nghi ngờ bị hại là chị Nguyễn Lương Gia H1 nói xấu mình nên Trần Lê Minh T đã sử dụng mũ bảo hiểm đánh liên tục 04 (bốn) cái vào đầu chị H1 và dùng con dao dài 22cm, cán gỗ dài 11cm, lưỡi dài 11cm, bản rộng 1,5cm, đâm 01 nhát vào hông bên trái gây thương tích cho chị H1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13% (Mười ba phần trăm). Do đó, đủ cơ sở kết luận Trần Lê Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của chị Nguyễn Lương Gia H1, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống tuân thủ pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Vì những mâu thuẫn nhỏ bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm để liên tục tấn công và gây thương tích cho bị hại. Đây là những tình tiết được quy định tại điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó bị cáo bị truy tố tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường chi phí điều trị thương tích và các thiệt hại khác cho bị hại và được bị hại bãi nại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
[5] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy hung khí gây án gồm:
- - 01 (Một) 01 con dao dài 22cm, cán gỗ dài 11cm, lưỡi dài 11cm, bản rộng 1,5cm Trần Lê Minh T dùng gây thương tích cho chị H1.
- - 01 (Một) mũ bảo hiểm màu trắng - đen bị vỡ do Trần Lê Minh T dùng để đánh chị H1 gây thương tích.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại chị Nguyễn Lương Gia H1 đã nhận số tiền bồi thường 8.400.000₫ (Tám triệu bốn trăm nghìn đồng) chi phí điều trị, không yêu cầu bồi thường thêm và không có ý kiến gì khác nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo Trần Lê Minh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận;
[9] Đối với phần trình bày của bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt. Đã được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Lê Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trần Lê Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/7/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy hung khí gây án gồm:
- - 01 (Một) 01 con dao dài 22cm, cán gỗ dài 11cm, lưỡi dài 11cm, bản rộng 1,5cm.
- - 01 (Một) mũ bảo hiểm màu trắng - đen bị vỡ.
Các vật chứng này hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo biên bản giao vật chứng, tài sản ngày 09/01/2025.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 23, 26 và 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Trần Lê Minh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo đối với Bản án:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhàn |
5
Bản án số 91/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 91/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Lê Minh Tr tội “Cố ý gây thương tích”
