Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2025/DS-PT

Ngày 21-02-2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

_________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tấn;

Ông Huỳnh Văn Luật.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 714/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 198/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 19/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Cẩm T, sinh năm 1973; địa chỉ: số nhà A, đường Đ, phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đinh Tấn T1, sinh năm 1981 và bà Hồ Như P, sinh năm 1999; cùng địa chỉ: số G, tổ D, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 06/3/2024); ông T1 vắng mặt, bà P có mặt.

- Bị đơn:

  1. Ông Lê Huy T2, sinh năm 1967;
  2. Bà Nguyễn Phương T3, sinh năm 1967;

Cùng địa chỉ: tổ H, khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; cùng địa chỉ liên hệ: số F, Hồ Văn C, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; ông T2, bà T3 vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bà Hồ Như P là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Hoàng Cẩm T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 8 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hoàng Cẩm T trình bày:

Ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3 có mượn tiền bà T nhiều lần. Ngày 20/8/2022, bà T cùng ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3 có ghi giấy nợ (do ông T2 viết tay) xác nhận tổng số tiền mà ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3 nợ bà T là 660.000.000 đồng. Căn cứ theo giấy nợ trên, hằng tháng ông T2 và bà T3 sẽ trả góp tiền nợ cho bà T là 10.000.000 đồng/tháng. Ngày bắt đầu trả góp 10.000.000 đồng/tháng là ngày 20/9/2022.

Tuy nhiên, kể từ ngày 20/9/2022 đến nay, bà T đã nhiều lần liên hệ yêu cầu ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T4 trả nợ nhưng ông T2 và bà T3 chỉ hứa hẹn và không chịu trả. Nhận thấy, hành vi trên của ông T2 và bà T3 đã xâm phạm đến quyền và lợi ích của bà T.

Ngoài ra, do ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3 không thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo đúng thoả thuận ghi trên Giấy nợ nên phải trả lãi trên số tiền chậm trả với mức lãi suất là 10%/năm (tương đương 0,83%/tháng) theo quy định tại các điều 466, 357, 468 Bộ luật dân sự.

Căn cứ theo Giấy nợ, ngày đến hạn ông T2 và bà T3 phải trả tiền cho bà T là ngày 20/9/2022 nhưng ông T2 và bà T3 vẫn không chịu trả nên bà T xác định ngày 21/9/2022 là ngày vi phạm thời hạn trả nợ. Như vậy, số tiền lãi phải trả do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền tính từ ngày 21/9/2022 cho đến khi thanh toán đủ số tiền còn nợ, tạm tính đến ngày 21/12/2023 là 15 tháng. Như vậy, số tiền lãi phải trả là 660.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 15 tháng = 82.170.000 đồng.

Bà T khởi kiện yêu cầu: Ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T5 trả lại cho bà T số tiền nợ gốc là 660.000.000 đồng.

Buộc ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3 phải trả tiền lãi do chậm trả tiền cho bà T, số tiền lãi tạm tính từ ngày 21/9/2022 đến ngày 21/12/2023, số tiền lãi phải trả là 660.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 15 tháng = 82.170.000 đồng.

Buộc ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3 tiếp tục phải trả tiền lãi cho bà T tính từ ngày 22/12/2023 cho đến khi ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3 trả đủ số tiền nợ cho bà T.

Tổng số tiền mà ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3 phải trả cho bà T tạm tính là: 660.000.000 đồng + 82.170.000 đồng = 742.170.000 đồng.

* Đối với bị đơn ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do; không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có yêu cầu phản tố đối với vụ án.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 198/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Cẩm T đối với bị đơn ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu 35.680.000 đồng (ba mươi lăm triệu sáu trăm tám mươi nghìn) được trừ vào số tiền 16.843.000 đồng (mười sáu triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo biên lai thu tiền số 0001086 ngày 03/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương. Nguyên đơn còn phải nộp 18.837.000 đồng (mười tám triệu tám trăm ba mươi bảy nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 01/11/2024 bà Hồ Như P là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Hoàng Cẩm T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Hồ Như P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3.

[2] Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn bà Hoàng Cẩm T khởi kiện ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3 yêu cầu trả số tiền nợ vay gốc là 660.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ tháng 9/2022 đến ngày xét xử tháng 9/2024 với mức lãi suất 10% năm = 660.000.000 đồng x 10%/năm x 02 năm = 132.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền gốc và lãi bà T yêu cầu bị đơn phải trả là 792.000.000 đồng. Chứng cứ nguyên đơn xuất trình là giấy ghi ngày 20/8/2022, giấy chụp tin nhắn từ điện thoại, USB ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà T và ông T2.

Bị đơn ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do; không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có yêu cầu phản tố đối với vụ án.

[2.1] Xét thấy, đối với giấy ghi ngày 20/8/2022 có nội dung: “Ngày 20/08/2022, TC-Số tiền (660.000.000₫)Bđ – 20/08/2022 trả vốn 10 triệu hàng tháng cho X (T – Phươg)”, nội dung nêu trên không thể hiện rõ số tiền 660.000.000 đồng là tiền vay hay tiền mượn, không thể hiện rõ ai là người cho vay, ai là người vay, không thể hiện thời gian trả hay mượn. Giấy ghi cũng không có chữ ký, chữ viết ghi họ, tên của người cho vay, người vay, không thể hiện rõ họ và tên, năm sinh và địa chỉ người cho vay, người mượn tiền. Mặt khác, nguyên đơn trong vụ án là bà Hoàng Cẩm T, bị đơn là ông Lê Huy T2 và bà Nguyễn Phương T3 tuy nhiên trong giấy ghi nêu trên chỉ đề tên X, T6, P1 là những người không liên quan trong vụ án. Như vậy, giấy ghi ngày 20/8/2022 không đảm bảo cả về hình thức và nội dung để xác định được đây là giấy cho vay tiền theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đối với giấy chụp tin nhắn từ điện thoại thì cũng không có nội dung nào trong tin nhắn thể hiện nội dung bị đơn vay của nguyên đơn số tiền 660.000.000 đồng. Đối với USB lưu ghi âm cuộc nói chuyện giữa hai bên tuy nhiên ghi âm không xác định nội dung ghi âm có bị chỉnh sửa hay có đúng là giọng nói của nguyên đơn và bị đơn hay không nên không đặt ra xem xét.

[2.2] Đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn: Nguyên đơn trình bày rằng giấy ghi ngày 20/8/2022 ghi tên T2 – P2, X thì T2 là Nguyễn Huy T7 và P2 là Nguyễn Phương T3, X là Hoàng Cẩm T nhưng không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho lời trình bày của mình nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Như P là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Hoàng Cẩm T.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên,

- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Hồ Như P là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Hoàng Cẩm T.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 198/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Hoàng Cẩm T phải chịu theo quy định của pháp luật phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003482 ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một;
  • - TAND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Huyền

THẨM PHÁN THÀNH VIÊN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Luật

Nguyễn Thị Huyền

Nguyễn Minh Tấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/DS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 91/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger