|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2024/HS-ST
Ngày 13 - 12 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Xuân Huế.
- Ông Đậu Xuân Quý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trường Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1991 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khối V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH H6; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Lê Thị G; Vợ: Nguyễn Thị N và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Bị hại Nguyễn Thị B (đã chết);
- Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị B:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1998; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1933; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bà B: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị H3. Sinh năm 1970. Nơi cư trú: Khối V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị H4. Sinh năm 1973. Nơi cư trú: Khối H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H5. Sinh năm 1973. Nơi cư trú: Xóm Q, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Y. Sinh năm 1975. Nơi cư trú: Khối V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/01/2022, Nguyễn Văn H đăng ký thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H6 hoạt động trong lĩnh vực sản xuất gạch không nung, đặt trụ sở công ty và xưởng sản xuất tại khối V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Văn H là Giám đốc và trực tiếp quản lý, điều hành xưởng sản xuất gạch.
Ngày 25/02/2023, Nguyễn Văn H mua dây chuyền sản xuất gạch không nung của Công ty TNHH Đức Việt tỉnh H theo Hợp đồng kinh tế số 25022023 ĐV-HG. Hệ thống máy sản xuất gạch không nung được cấu tạo, sản xuất theo quy trình cuốn chiếu gồm các bộ phận chính: máy nạp liệu (có 02 phễu nạp liệu), phía dưới 02 phễu này là băng tải số 01 để đưa nguyên liệu vào bồn trộn tròn số 01, phía dưới bồn trộn tròn số 01 là bồn trộn tròn số 02, tiếp dưới bồn trộn tròn số 02 là băng tải số 02 đưa nguyên liệu vào máy ép thủy lực và cho ra sản phẩm ở băng tải số 03. Trong đó: Máy nạp liệu có chức năng nạp nguyên liệu gồm bột đá, đá mi xây dựng, cát vào bồn trộn số 01 qua băng tải; máy vận hành bồn trộn số 01 có tính năng để sản xuất bê tông bằng cách trộn trong một khoảng thời gian nhất định các thành phần nước, xi măng, bột đá, đá mi xây dựng, cát theo tỷ lệ nhất định (cụ thể: 01 mẻ trộn gồm 25kg xi măng, nước bơm từ vòi trong 45 giây, bột đá, đá mi xây dựng, cát được nạp từ máy nạp liệu trong 21 giây); máy vận hành bồn trộn số 02 có tính năng để chứa bê tông thành phẩm từ bồn trộn số 01 để chuyền lên băng tải; máy ép thủy lực có tính năng ép bê tông thành khuôn để ra sản phẩm gạch không nung.
Quá trình điều hành hoạt động, Nguyễn Văn H tuyển dụng 04 công nhân làm việc, không ký kết hợp đồng lao động, gồm: Bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H3, bà Trần Thị H4 và bà Nguyễn Thị H5. Trong đó, bà B được H phân công làm nhiệm vụ: Vận hành máy nạp liệu tự động để nạp nguyên liệu bột đá, đá mi xây dựng, cát vào bồn trộn số 01, sau đó đổ xi măng, nước vào bồn trộn số 01 rồi vận hành bồn trộn để các nguyên liệu bột đá, đá mi xây dựng, cát, xi măng, nước thành bê tông rồi mở cửa bồn trộn số 01 để hồ chuyển xuống bồn trộn số 02; vận hành băng tải số 02 chuyển bê tông vào máy ép thủy lực kết thúc quy trình làm việc; cuối buổi làm việc có nhiệm vụ vệ sinh bồn trộn số 01.
Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 11/5/2024, sau khi kết thúc quy trình làm việc, bà Nguyễn Thị B tiến hành vệ sinh bồn trộn số 01. Lúc này, bà Nguyễn Thị H3 đang làm nhiệm vụ sắp khuôn gạch (cách bồn trộn khoảng 03m); bà H3 thấy bà B đứng ngoài thùng bồn trộn và sử dụng búa bằng kim loại gõ xung quanh thành bồn trộn rồi tắt bồn trộn để bước vào bên trong tiếp tục vệ sinh. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, bà H3 nhìn về phía bồn trộn thì thấy bà B đưa một cánh tay lên khua đi khua lại nhiều lần nên bà H3 chạy đến xem thì thấy bà B bị mắc kẹt trong bồn trộn; lúc này bồn trộn đang hoạt động nên bà H3 chạy đến tắt cầu dao tổng của hệ thống bồn trộn. Sau đó, bà B được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh N nhưng do thương tích nặng bà B đã tử vong.
Những công việc mà bà Nguyễn Thị B được phân công là công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động được quy định tại Mục 5 Thông tư 06/2020/TT-BLĐTBXH ngày 20/8/2020 của Bộ L: “5. Trực tiếp ... vận hành, ..., vệ sinh các loại máy... nạp liệu, ra liệu, nghiền, xay, trộn, ...”. Tuy nhiên, Nguyễn Văn H không tổ chức huấn luyện về an toàn lao động và cấp thẻ an toàn trước khi bố trí công việc vi phạm quy định tại khoản 6 Điều 12, khoản 2, 3 Điều 14 Luật An toàn vệ sinh lao động; quá trình hoạt động và điều hành xưởng sản xuất, Nguyễn Văn H không xây dựng, ban hành, phổ biến nội quy vận hành an toàn thiết bị và các biện pháp để đảm bảo an toàn trong quá trình sản xuất vi phạm quy định tại Điều 15 Luật An toàn vệ sinh lao động.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số: 118/KLGĐTT-KTHS ngày 24/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị B:
“1. Các kết quả chính:
Bên ngoài nạn nhân bị nhiều vết thương, xây xát, mài miết, mất lớp thượng bì da, bầm tụ máu; Vỡ gan; Ô bụng chứ khoảng 2000ml máu đông và không đông.
2. Kết luận nguyên nhân chết:
Suy tuần hoàn cấp do chấn thương làm vỡ Gan”.
Bản cáo trạng số: 101/CT-VKSNĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Về vật chứng:
Tịch thu và tiêu hủy:
01 (một) bay hồ xây dựng, cán làm bằng gỗ dài 16 cm, mũi nhọn, lưỡi bay bám dính nhiều bê tông khô dài 13 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc xẻng có cán làm bằng gỗ dài 120 cm, lưỡi xẻng bằng kim loại màu đen bám dính nhiều bê tông khô; 01 (một) cái búa có cán làm bằng gỗ, cán bên ngoài bọc ống nhựa màu xanh dài 30 cm, đầu búa bằng kim loại kích thước (5x8x4) cm, búa đã qua sử dụng, bám dính nhiều bê tông khô;
Trả lại cho Công ty TNHH H6 do Nguyễn Văn H, chức vụ: Giám đốc: hệ thống dây chuyền sản xuất gạch không nung gồm: 01 máy nạp liệu, 02 bồn trộn, 03 băng tải.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ nên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng được thu giữ và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Nguyễn Văn H là Giám đốc và trực tiếp quản lý, điều hành công ty TNHH H6 hoạt động trong lĩnh vực sản xuất gạch không nung. Quá trình hoạt động, H phân công bà Nguyễn Thị B làm nhiệm vụ vận hành máy nạp liệu tự động, vận hành bồn trộn, vận hành băng tải để chuyển bê tông vào máy ép thủy lực và vệ sinh bồn trộn sau khi kết thúc quy trình làm việc. Những công việc bà B được giao có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động nhưng H không tổ chức huấn luyện về an toàn lao động và cấp thẻ an toàn trước khi bố trí công việc; quá trình hoạt động và điều hành xưởng sản xuất, H không xây dựng, ban hành, phổ biến nội quy vận hành an toàn thiết bị và các biện pháp để đảm bảo an toàn trong quá trình sản xuất dẫn đến khoảng 17 giờ ngày 11/5/2024, khi bà Nguyễn Thị B đang vệ sinh bồn trộn nguyên liệu thì bị tai nạn lao động dẫn đến tử vong.
Hành vi của Nguyễn Văn H vi phạm khoản 6 Điều 12; khoản 2,3 Điều 14; Điều 15 của Luật An toàn lao động; mục 5 Thông tư số: 06/2020/TT-BLĐTBXH ngày 20/8/2020 của Bộ L; đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về hình phạt chính: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự an toàn trong lao động, sản xuất gây hậu quả chết người, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường, khắc phục thiệt hại cho bị hại. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. bị cáo có ông nội Nguyễn Văn T1, bà nội Đinh Thị N1 là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tính tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên việc cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm, không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
01 (một) bay hồ xây dựng, cán làm bằng gỗ dài 16 cm, mũi nhọn, lưỡi bay bám dính nhiều bê tông khô dài 13 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc xẻng có cán làm bằng gỗ dài 120 cm, lưỡi xẻng bằng kim loại màu đen bám dính nhiều bê tông khô; 01 (một) cái búa có cán làm bằng gỗ, cán bên ngoài bọc ống nhựa màu xanh dài 30 cm, đầu búa bằng kim loại kích thước (5x8x4) cm, búa đã qua sử dụng, bám dính nhiều bê tông khô. Các vật chứng liên quan đến vụ án, chủ sở hữu không yêu cầu nhận lại mà đề nghị tịch thu tiêu huỷ. Xét thấy, vật chứng chủ sở hữu không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu và tiêu hủy.
Đối với hệ thống dây chuyền sản xuất gạch không nung gồm: 01 máy nạp liệu, 02 bồn trộn, 03 băng tải. Vật chứng có liên quan đến vụ án, đang được tạm giao cho Công ty TNHH H6 quản lý. Tại phiên toà, Nguyễn Văn H giám đốc Công ty đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho công ty. Xét thấy: Vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội, chủ sở hữu là Công ty TNHH H6 có yêu cầu xin nhận lại. Vật chứng còn giá trị sử dụng cần trả lại cho Công ty TNHH H6.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H: 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (13 tháng 12 năm 2024).
Giao bị cáo cho UBND thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 90, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
2.1. Tịch thu và tiêu hủy:
- - 01 (một) bay hồ xây dựng, cán làm bằng gỗ dài 16 cm, mũi nhọn, lưỡi bay bám dính nhiều bê tông khô dài 13 cm, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) chiếc xẻng có cán làm bằng gỗ dài 120 cm, lưỡi xẻng bằng kim loại màu đen bám dính nhiều bê tông khô;
- - 01 (một) cái búa có cán làm bằng gỗ, cán bên ngoài bọc ống nhựa màu xanh dài 30 cm, đầu búa bằng kim loại kích thước (5x8x4) cm, búa đã qua sử dụng, bám dính nhiều bê tông khô;
(Đặc điểm, tình trạng chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/12/2024 giữa Công an huyện N và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).
2.2. Trả lại cho Công ty TNHH H6 do Nguyễn Văn H, chức vụ: Giám đốc: hệ thống dây chuyền sản xuất gạch không nung gồm: 01 máy nạp liệu, 02 bồn trộn, 03 băng tải.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 và Điều 24 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Hoàng Hào |
Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về an toàn lao động
- Số bản án: 91/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van Hoan - Vi phạm an toàn về lao động
