TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2024/DS-ST
Ngày: 20-11-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Hùng Dũng
Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Quốc Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 144/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 432/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 157/2024/QĐST-DS và Thông báo đưa vụ án ra xét xử số 435/2024/TBXXST-DS cùng ngày 29/10/2024 cùng Thông báo về việc dời ngày xét xử số 08/2024/TB-TA ngày 04/11/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H; Địa chỉ trụ sở chính: Số B Bis N, phường B, quận A, TP Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Dư Thế N, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số A QL I, Khu vực P, phường T, quận T, TP Cần Thơ. Có mặt.
Bị đơn: Ông Trần Trường A, sinh năm 1997. Vắng mặt
Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, TP ..
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Võ Thị Thu H, sinh năm 1978. Vắng mặt.
Ông Trần Văn Ú, sinh năm 1972. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, TP ..
Ông Dương Hữu H1, sinh năm 1970. Có mặt.
Địa chỉ: Số D, ấp T, xã T, huyện C, TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 5 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 14/02/2020 Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Phát triển thành phố H và ông Trần Trường A ký Hợp đồng tín dụng số 05/20PGDThN/HĐTD để cho bị đơn ông A vay số tiền 350.000.000 đồng, giải ngân theo khế ước nhận nợ số 05/20PGDThN/HĐTD/KUNN02 ngày 19/02/2021, thời hạn vay 12 tháng. Lãi suất vay trong hạn: 12%/năm. Lãi suất này được cố định trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay. Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh 03 tháng/lần; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm. Phương thức trả nợ: Trả gốc khi đến hạn. Trả nợ lãi 01 tháng/lần vào ngày 15 của tháng, ngày trả nợ đầu tiên là ngày 15/05/2021.
Để bảo đảm cho khoản vay nói trên thì ông Trần Văn Ú và bà Võ Thị Thu H là cha mẹ ông A, có ký với ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 05/20PGDThN/HĐBĐ ngày 14/02/2020 để thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của ông Ú, bà H, đất tọa lạc tại thửa đất số 752, tờ bản đồ số 8, ấp P, xã T, huyện C, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 433756 (số vào số cấp GCN: CS04062) do Sở tài nguyên và môi trường thành phố C cấp ngày 06/02/2020, hợp đồng được đăng ký thế chấp theo quy định.
Quá trình thực hiện Hợp đồng ông A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi đến hạn như đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ mà hai bên đã ký kết, cho đến nay bị đơn chưa trả nợ gốc, kể từ kỳ hạn thanh toán vào ngày 15/11/2021 đến nay bị đơn không thanh toán các khoản nợ lãi đến hạn và toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn, ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng bị đơn vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng.
Nay ngân hàng yêu cầu bị đơn ông A phải trả số tiền tổng cộng là 535.907.206 đồng, trong đó, nợ gốc là 350.000.000 đồng, lãi trong hạn là 13.844.004 đồng, lãi quá hạn là 168.030.053 đồng, lãi chậm trả là 4.033.149 đồng, lãi tính đến ngày 20/11/2024 và yêu cầu bị đơn tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 21/11/2024 cho đến khi thanh toán tất nợ cho nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không thanh toán nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 05/20PGDThN/HĐBĐ ngày 14/02/2020 để thu hồi nợ cho ngân hàng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/9/2024 ông Dương Hữu H1 trình bày như sau: Vào ngày 10/9/2020 vợ chồng bà H, ông Ú có cho ông cố 05 công tầm lớn đất lúa với giá 05 cây vàng 24k, thời hạn cố là 03 năm (từ ngày 10/9/2020 đến ngày 10/9/2024), hết thời hạn vợ chồng bà H không chuộc đất thì ông được tiếp tục canh tác đất. Ông không biết việc vợ chồng bà H thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCN QSD) phần đất ông đã cố để cho ông A vay ngân hàng nên ông không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn về việc phát mãi tài sản thế chấp tại thửa 752, ông yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp QSD đất giữa ngân hàng và ông Ú, bà H.
Tại phiên tòa ông H1 xác định không yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp QSD đất giữa ngân hàng và ông Ú, bà H, ông đồng ý để cho ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp tại thửa 752, trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp thì ông sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.
Quá trình tố tụng bị đơn ông A và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ú, bà H đều vắng mặt. Vụ kiện không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông A phải thanh toán cho ngân hàng số tiền số tiền tổng cộng là 535.907.206 đồng, trong đó nợ gốc là 350.000.000 đồng, lãi trong hạn là 13.844.004 đồng, lãi quá hạn là 168.030.053 đồng, lãi chậm trả là 4.033.149 đồng, lãi tính đến ngày 20/11/2024 và yêu cầu bị đơn tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 21/11/2024 cho đến khi thanh toán tất nợ cho nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không thanh toán nợ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 05/20PGDThN/HĐBĐ ngày 14/02/2020 để thu hồi nợ cho ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông A trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký. Do đó, tranh chấp trên được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Về việc tham gia tố tụng: Ông A là bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ú, bà H đều vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt những đương sự nói trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của khởi kiện của nguyên đơn:
Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng số 05/20PGDThN/HĐTD ngày 14/02/2020, khế ước nhận nợ số 05/20PGDThN/HĐTD/KUNN02 ngày 19/02/2021, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 05/20PGDThN/HĐBĐ ngày 14/02/2020 có đăng ký thế chấp, được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần P với bị đơn ông A, với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ú, bà H đều trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, phía bị đơn ông A đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng nói trên, ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng phía bị đơn vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bị đơn vi phạm các nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng, khế ước nhận nợ nên nguyên đơn đã khởi kiện tại Tòa án. Việc khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông A phải trả số tiền còn nợ nói trên là phù hợp với quy định tại Điều 99, Điều 100 và Điều 103 của Luật các Tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử có căn cứ xem xét chấp nhận.
Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 21/11/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 05/20PGDThN/HĐTD ngày 14/02/2020 và khế ước nhận nợ số 05/20PGDThN/HĐTD/KUNN02 ngày 19/02/2021cho đến khi bị đơn thanh toán xong khoản nợ là có căn cứ.
Trường hợp bị đơn không trả nợ cho nguyên đơn thì nguyên đơn được quyền yêu cầu phát mãi tài sản tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 05/20PGDThN/HĐBĐ ngày 14/02/2020 để thu hồi nợ cho nguyên đơn.
[2.2] Xét yêu cầu của ông Dương Hữu H1 về việc hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ngân hàng và ông Ú, bà H
Quá trình tố tụng ông H1 không có đơn yêu cầu độc lập và tại phiên tòa ông xác định ông không tiếp tục yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ngân hàng với ông Ú và bà H, ông đồng ý để cho ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp tại thửa 752 nói trên nên Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu về việc hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ngân hàng và ông Ú, bà H.
[3] Về quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tài sản: Bị đơn ông A phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tài sản theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 99, Điều 100 và Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
Căn cứ Điều 298, Điều 317, Điều 323, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 158; Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H đối với ông Trần Trường A.
Buộc ông Trần Trường A phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần cổ phần Phát triển thành phố H số tiền là 535.907.206 đồng, trong đó, nợ gốc là 350.000.000 đồng, lãi trong hạn là 13.844.004 đồng, lãi quá hạn là 168.030.053 đồng, lãi chậm trả là 4.033.149 đồng, lãi tính đến ngày 20/11/2024.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (21/10/2024), ông A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Trường hợp bị đơn ông A không thanh toán nợ cho ngân hàng thì ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 05/20PGDThN/HĐBĐ ngày 14/02/2020 để thu hồi nợ cho ngân hàng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Tách tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Dương Hữu H1 với bà Võ Thị Thu H, ông Trần Văn Ú ra giải quyết thành vụ kiện khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Buộc ông Trần Trường A phải nộp 25.436.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại cổ phần cổ phần Phát triển thành phố H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 12.040.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0008138 ngày 10/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Về chi phí xem xét thẩm định tài sản: Buộc bị đơn ông Trần Trường A phải nộp 2.000.000 đồng (giao nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ) để trả lại cho nguyên đơn.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Lương Hùng Dũng Bà Nguyễn Thị Huệ | Nguyễn Thị Hoài T |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Thương |
Bản án số 91/2024/DS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 91/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
