|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 91/2024/HSST Ngày: 28/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đức Dũng
- Bà Lữ Kim Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Khánh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2024/TLST- HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thanh T, sinh năm 1994 tại An Giang; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở: khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh D, sinh năm 1973 (còn sống) và bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1976 (còn sống); gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; H và tên vợ: sống chung như vợ chồng, chưa đăng ký kết hôn với Y A, sinh năm 1984 và có 01 người con chưa đặt tên và đăng ký khai sinh; Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 30/11/2022 đến ngày 09/12/2022 được huỷ bỏ tạm giữ, sau đó bỏ trốn và bị bắt truy nã, tạm giữ ngày 03/9/2024 và tạm giam cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện C.
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Trương Trọng N1, sinh năm 1979 (vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- + Anh Trương Đình P, sinh năm 2003 (vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- + Anh Nguyễn Hoàng Vũ K, sinh năm 1985(vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- + Bà Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1968 (vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- + Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1994 (vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- + Anh Nguyễn Gia L, sinh năm 1984 (vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- + Chị Nguyễn Trần Ánh T3, sinh năm 1992 (vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- + Bà Đỗ Thị Mỹ H1, sinh năm 1978 (vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
* Người làm chứng:
- + Anh Trần Trung Đ, sinh năm 2000 (vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- + Ông Trần Văn T4, sinh năm 1959 (vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thanh T và Trương Trọng N1, sinh năm 1979, cư trú tại ấp B, xã X, huyện C; Nguyễn Hoàng Vũ K, sinh năm 1985, cư trú ấp L, xã X, huyện C; Trương Đình P sinh năm 2003, cư trú ấp T, xã X, huyện C; Nguyễn Văn T2 sinh năm 1994, cư trú ấp T, xã L, huyện X; Nguyễn Thị Hồng T1 sinh năm: 1968, cư trú ấp B, xã X, huyện C; Nguyễn Gia L sinh năm 1984, cư trú ấp B, xã X, huyện C và Trần Nguyễn Ánh T5 (vợ của L), sinh năm 1992, thường trú ấp B, xã X, huyện C có quan hệ quen biết, làm thuê chung với nhau.
Khoảng thời gian từ 18 giờ 00 phút đến 19 giờ 00 phút ngày 30/11/2022, Lê Thanh T, Trương Trọng N1, Nguyễn Hoàng Vũ K, Nguyễn Văn T2, Trương Đình P đến nhà vợ chồng Nguyễn Gia L và Trần Nguyễn Ánh T5 (con ruột của T1), sinh năm 1992, cư trú ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai chơi, ăn uống và lấy tiền công đã làm thuê cho gia đình T5. Sau khi T5 trả tiền công cho K và N1 xong thì đi công việc, còn T, N1, K, T2, P và T1 rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức “Cào tố” tại nhà vợ chồng L. L đồng ý cho những người trên đánh bạc và hướng dẫn xuống nhà bếp để đánh, còn L đi mua bài và nước giúp cho nhóm N1, K, P, T1, T2 và T đánh bạc.
Hình thức đánh bạc “cào tố” như sau: Những người tham gia đánh bạc phải bỏ ra số tiền 20.000 đồng để giữa chiếu bạc, sau đó sử dụng bộ bài tây 52 lá chia đều cho các con bạc mỗi người 03 lá bài, phần bài còn lại thì bỏ giữa chiếu bạc. Sau khi chia bài xong, người chia bài sẽ được tố trước (hoặc theo chiều kim đồng hồ) bằng cách bỏ ra một số tiền nào đó xuống chiếu bạc nhưng không được quá 200.000 đồng, những người chơi khác có thể tiếp tục tham gia (theo) bằng cách bỏ xuống chiếu bạc số tiền tương ứng với người tố hoặc không tham gia (thua ván đó). Cứ như vậy sau một vòng đến khi “tố” mà không ai tham gia nữa thì lật bài lên để xác định thắng thua, để ăn toàn bộ số tiền trên. Trong đó quy định: 03 lá bài giống nhau gọi là bão, sáp hoặc cù > 03 lá bài toàn là tây (J, Q, K) nhưng không giống nhau còn gọi là Ảnh hoặc T6 > còn lại gọi là bù (tính điểm). Các lá bài từ 2 đến 9 được tính với giá trị tương ứng trên là bài; lá bài J, Q, K là 0 điểm; còn lá bài A được tính là 01 điểm. Nếu người chơi mà có 03 lá bài giống nhau (còn gọi là bão, sáp, cù) thì sau khi đánh thắng, ngoài được số tiền thắng được trên chiếu bạc thì quy định những người chơi khác phải trả thêm cho người đó 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng).
Khi đánh bạc cả nhóm thỏa thuận, ai thắng sẽ bỏ ra số tiền 10.000 đồng đến 50.000 đồng tùy vào số tiền thắng thua nhiều hay ít, bỏ vào lon sữa ở chiếu bạc để đưa cho L hết với mục đích mua nước uống và bài để đánh bạc.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút, trong lúc các N1, K, P, T1, T và T2 đang đánh bạc thì bị Công an xã X, huyện C bắt quả tang về hành vi đánh bạc, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng), trên người các đối tượng đánh bạc là 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) cùng đồ vật, tài liệu, công cụ liên quan nhằm phục vụ cho việc đánh bạc.
Ngày 09/12/2022 và 07/06/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo đối với Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thị Hồng T1, Lê Thanh T, Trương Đình P, Nguyễn Hoàng Vũ K, Trương Trọng N1, Nguyễn Gia L và Trần Thị Ánh T7 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, Lê Thanh T bỏ trốn. Ngày 16/03/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định truy nã đối với Lê Thanh T.
Ngày 10/04/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định tách vụ án hình sự; Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị cáo Lê Thanh T.
Ngày 03/09/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định đình nã đối với Lê Thanh T do đã bắt được bị cáo. Ngày 04/09/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án; Quyết định phục hồi điều tra bị cáo đối với Lê Thanh T về hành vi “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra xác định số tiền bị cáo T và các đối tượng sử dụng để đánh bạc như sau:
- Lê Thanh T sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc, trong đó T bỏ 500.000 đồng xuống chiếu bạc để đánh, còn 1.500.000 đồng cất trong người để đánh bạc sau. Khi bắt quả tang, T bị thu giữ số tiền 1.500.000 đồng.
- Trương Đình P sử dụng số tiền 1.200.000 đồng để đánh bạc.
- Trương Trọng N1 sử dụng số tiền 2.100.000 đồng để đánh bạc.
- Nguyễn Hoàng Vũ K sử dụng số tiền 900.000 đồng để đánh bạc.
- Nguyễn Văn T2 sử dụng số tiền 700.000 đồng để đánh bạc.
- Nguyễn Thị Hồng T1 sử dụng số tiền khoảng hơn 800.000 đồng.
Nguyễn Gia L tuy không tham gia đánh bạc nhưng giúp sức cho các bị cáo trên thông qua việc mua giúp bài.
Lê Thanh T tham gia đánh bạc dưới hình thức “Cào tố” là hình thức nhiều người đánh bạc với nhau nên số tiền đánh bạc của Lê Thanh T là tổng số tiền T và các đối tượng dùng để đánh bạc là 7.900.000 đồng (bảy triệu chín trăm nghìn đồng).
* Vật chứng vụ án và việc xử lý vật chứng:
01 xe môtô biển số 60U1-3898 đã tạm giữ của bị cáo Lê Thanh T. Xe môtô này do Đỗ Thị Mỹ H1, sinh năm 1978, cư trú ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ xe. Chị H1 khai đã bán cho người khác nhưng đã lâu nên không nhớ đã bán cho ai và bán lúc nào. Quá trình điều tra, T khai đã mua xe môtô trên của một người không rõ nhân thân lai lịch về làm phương tiện đi lại, không sử dụng để đánh bạc. Kết quả tra cứu xe máy vật chứng số 33/PC01 ngày 17/01/2023 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ xác định xe môtô trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại xe môtô trên cho T thông qua người được ủy quyền là bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm: 1976, thường trú ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp – mẹ ruột của T.
Tại Cáo trạng số: 101/CT-VKS - CM ngày 05 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố bị cáo: Lê Thanh T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo bản cáo trạng và đề nghị:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Thanh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 321 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Lê Thanh T mức án từ 06 tháng đến 08 tháng tù giam.
Vật chứng vụ án: đã giải quyết xong và phù hợp với quy định của pháp luật nên không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ kết tội và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30/11/2022, tại nhà của Nguyễn Gia L thuộc ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Lê Thanh T cùng với Trương Trọng N1, Trương Đình P, Nguyễn Hoàng Vũ K, Nguyễn Thị Hồng T1, Nguyễn Văn T2 đang đánh bạc bằng hình thức “Cào tố” được thua bằng tiền trái pháp luật, với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 7.900.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Lê Thanh T đã phạm tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 101 ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nhận thấy:
Bị cáo là công dân đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và năng lực hành vi dân sự, bị cáo nhận thức được đánh bạc là tệ nạn xã hội, dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như phá tán tài sản, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình và làm phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác. Việc đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cùng Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thị Hồng T1, Trương Đình P, Nguyễn Hoàng Vũ K, Trương Trọng N1, Nguyễn Gia L tham gia đánh bạc, bị cáo sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. Hành vi của bị cáo đã ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và nếp sống văn minh của xã hội. Sau khi phạm tội bị cáo lại bỏ trốn và bị bắt truy nã nên cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa chung tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã gây ra thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Các vấn đề khác:
- Về xử lý vật chứng: 01 xe môtô biển số 60U1-3898 đã tạm giữ của bị cáo Lê Thanh T. Xe môtô này do Đỗ Thị Mỹ H1, sinh năm 1978, cư trú ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ xe. Chị H1 khai đã bán cho người khác nhưng đã lâu nên không nhớ đã bán cho ai và bán lúc nào. Quá trình điều tra, T khai đã mua xe môtô trên của một người không rõ nhân thân lai lịch về làm phương tiện đi lại, không sử dụng để đánh bạc. Kết quả tra cứu xe máy vật chứng số 33/PC01 ngày 17/01/2023 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ xác định xe môtô trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại xe môtô trên cho T thông qua người được ủy quyền là bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm: 1976, thường trú ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp – mẹ ruột của T nhận là phù hợp quy định của pháp luật nên không xem xét.
- Ngoài ra quá trình điều tra xác định ngoài lần thực hiện hành vi đánh bạc bị bắt quả tang vào ngày 30/11/2022 trên thì trước đó bị cáo Lê Thanh T còn thực hiện hành vi đánh bạc nhiều lần tại nhà của Nguyễn Gia L nhưng không xác định được số tiền dùng để đánh bạc nên không có cơ sở để xử lý hình sự, hành vi trên của Lê Thanh T vi phạm điểm a khoản 2 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, căn cứ Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì hành vi trên của T đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính là phù hợp quy định của pháp luật.
- Đối với Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thị Hồng T1, Trương Đình P, Nguyễn Hoàng Vũ K, Trương Trọng N1, Nguyễn Gia L và Trần Thị Ánh T7 đã bị Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ đưa ra xét xử bằng bản án số 79/2023/HSST ngày 23/8/2023 là phù hợp quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ về đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và mức án đề nghị xử phạt bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh T: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2024 (nhưng được trừ vào thời gian đã tạm giữ từ ngày 30/11/2022 đến ngày 09/12/2022). - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Thanh T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Khuyên |
7
Bản án số 91/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc
- Số bản án: 91/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh T phạm tội đánh bạc
