|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 91/2024/KDTM- ST Ngày: 21/11/2024 V/v "Tranh chấp hợp đồng mua bán". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Văn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh
Bà Tô Thị Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Mai Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử công khai vụ án thụ lý số 22/2024/TLST-KDTM ngày 22 tháng 04 năm 2024 về "Tranh chấp Hợp đồng mua bán" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST- KDTM ngày 18 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà ngày 24/10/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH Đ; Mã số doanh nghiệp: 0104080063; Địa chỉ trụ sở chính: Số A B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, Việt Nam; Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đăng H - Giám đốc. có mặt
Đại diện theo ủy quyền: Công ty L; người đại diện theo pháp luật: Luật sư Trần Thị Hải H1 – Giám đốc. Có mặt
- Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ1; Mã số doanh nghiệp: 0106107472; Địa chỉ trụ sở chính: Căn J, KBT An Phú Shop V - Khu đô thị M, phường D, quận H, thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: ông Mai Văn T - Giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Bà Hà Thị H2, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án và tại phiên toà, nguyên đơn trình bày:
Công ty cổ phần Đ1 được thành lập ngày 08/02/2013 bởi 03 cổ đông sáng lập là Công ty cổ phần T2 (Đăng ký kinh doanh số 0600082558 do Sở K cấp lần đầu ngày 08/07/2009) (sau đây gọi tắt là “Tập đoàn T2”) và 02 cá nhân là cổ đông của Công ty cổ phần T2, cụ thể là bà Lê Thị Thúy N (CCCD số [...]) và bà Trần Thị Quế N1 (CCCD số [...]).
Ngày 25/05/2018, Công ty TNHH Đ ký Hợp đồng nguyên tắc số 2505/HĐNT/2018/HT-NCC với Công ty cổ phần Đ1 – Tập đoàn T2, theo đó Công ty Đ thực hiện việc cung cấp thép xây dựng cho Công ty Đ1 – Tập đoàn T2 để xây dựng các dự án nhà cao tầng, nhà thấp tầng tại Khu đô thị D, phường D, quận H, thành phố Hà Nội. Việc thực hiện Hợp đồng sẽ theo các yêu cầu đặt hàng của Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 từ ngày 25/05/2018 đến hết ngày 31/12/2018.
Tiếp theo ngày 21/01/2019 Công ty TNHH Đ ký Hợp đồng nguyên tắc số 23/HĐNT/2019/HT-NCC với Công ty cổ phần Đ1 – Tập đoàn T2, theo đó Công ty Đ thực hiện việc cung cấp thép xây dựng cho Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 để xây dựng các dự án nhà cao tầng, nhà thấp tầng tại Khu đô thị D, phường D, quận H, thành phố Hà Nội. Việc thực hiện Hợp đồng sẽ theo các yêu cầu đặt hàng của Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 từ ngày 21/01/2019 đến hết ngày 31/12/2019.
Theo các Hợp đồng nêu trên, Công ty Đ đã thực hiện đúng việc cung cấp các sản phẩm thép xây dựng theo các yêu cầu đặt hàng của Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 và được thể hiện, xác nhận tại các Biên bản giao nhận hàng và cam kết thanh toán công nợ giữa Công ty Đ và Công ty Đ1 - Tập đoàn T2, các Hoá đơn giá trị gia tăng mà Công ty Đ đã xuất cho Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 và các Biên bản đối chiếu, xác nhận công nợ giữa công ty Đ và Công ty Đ1 - Tập đoàn T2.
Căn cứ theo Biên bản đối chiếu, xác nhận công nợ và cam kết trả nợ ngày 02/01/2020 giữa Công ty Đ và Công ty Đ1 - Tập đoàn T2, tổng công nợ còn phải thanh toán của Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 đối với Công ty Đ tính đến ngày 31/12/2019 là 9.335.603.700 VNĐ (bằng chữ: chín tỷ, ba trăm ba mươi lăm triệu, sáu trăm linh ba nghìn, bảy trăm đồng). Cũng theo Biên bản này, Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 cam kết thanh toán toàn bộ số tiền này cho Công ty Đ. Hai Bên đã thống nhất và ký xác nhận thông tin để làm cơ sở thanh quyết toán hợp đồng.
Sau nhiều lần Công ty Đ yêu cầu trả nợ và làm việc với Công ty Đ1 - Tập đoàn T2, khoản nợ này đã được Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 trả một phần theo các lần trả nợ, như sau:
| STT | Ngày thanh toán | Nội dung | Số tiền thanh toán (VNĐ) |
|---|---|---|---|
| 1. | 17/01/2020 | Công ty NCC - Tập đoàn Nam Cường thanh toán tiền | 1.000.000.000 |
| 2. | 17/01/2020 | Công ty NCC - Tập đoàn Nam Cường thanh toán tiền | 2.000.000.000 |
| 3. | 22/01/2020 | Công ty NCC - Tập đoàn Nam Cường thanh toán tiền | 1.000.000.000 |
| 4. | 09/04/2020 | Công ty NCC - Tập đoàn Nam Cường thanh toán tiền | 300.000.000 |
| 5. | 25/06/2020 | Công ty NCC - Tập đoàn Nam Cường thanh toán tiền | 1.000.000.000 |
| 6. | 13/08/2020 | Công ty NCC - Tập đoàn Nam Cường thanh toán tiền | 1.000.000.000 |
| Tổng cộng số tiền Công ty NCC - Tập đoàn Nam Cường đã thanh toán kể từ sau thời điểm chốt công nợ ngày 02/01/2020 đến nay | 6.300.000.000 | ||
Như vậy, tổng số tiền gốc Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 còn nợ Công ty Đ là: 3.035.603.700 VNĐ (bằng chữ: ba tỷ, không trăm ba mươi lăm triệu, sáu trăm linh ba nghìn, bảy trăm đồng).
Từ lần thanh toán cuối cùng vào ngày 13/8/2020 đến nay, Công ty Đ đã nhiều lần nỗ lực liên lạc, trao đổi, đề nghị tổ chức các buổi họp với các đại diện theo pháp luật của Công ty Đ1 và những người có trách nhiệm thuộc Công ty cổ phần T2 nhằm mục đích giải quyết nợ. Tuy nhiên, Công ty Đ đã gặp rất nhiều khó khăn do Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 cố tình chây ì, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ bằng các hình thức như là Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 liên tục thay đổi người đại diện theo pháp luật, thay đổi địa chỉ trụ sở Công ty trong giai đoạn này, người đại diện của Công ty Đ1 - Tập đoàn T2, Tập đoàn T2 né tránh cuộc gọi điện thoại, không trả lời tin nhắn, không cho đại diện Công ty Đ lên văn phòng để gặp, làm việc, đòi nợ.
Việc không thanh toán tiền hàng của Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 đã gây ra rất nhiều khó khăn, thiệt hại kinh tế lớn cho Công ty Đ, cụ thể là làm quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của cán bộ nhân viên cũng như uy tín và khả năng duy trì, phát triển kinh doanh của công ty.
Ngoài ra, căn cứ theo quy định tại Khoản 2.2 Điều 2 của Hợp đồng nguyên tắc số 2505/HĐNT/2018/HT-NCC và Hợp đồng nguyên tắc số 23/HĐNT/2019/HT-NCC, trường hợp Bên mua (Công ty Đ1 - Tập đoàn T2) chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đến hạn, thì khoản tiền chậm thanh toán sẽ bị tính lãi với mức lãi suất là +3 đồng/1kg/1 ngày chậm thanh toán. Căn cứ tổng số hàng đã giao và số ngày chậm thanh toán của từng lần giao hàng cụ thể, Công ty Đ đã xác định Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 chậm thanh toán số tiền đến hạn theo bảng kê chi tiết đính kèm Đơn khởi kiện này, tổng số tiền chậm thanh toán tạm tính đến thời điểm ngày 15/11/2023 là 2.266.259.363 VNĐ (bằng chữ: hai tỷ hai trăm sáu mươi sáu triệu, hai trăm năm mươi chin nghìn, ba trăm sáu mươi ba đồng) (Bảng kê chi tiết đính kèm).
Công ty Đ đề nghị Tòa án ra phán quyết buộc Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 thanh toán khoản nợ và tiền lãi chậm thanh toán cho chúng tôi, cụ thể như sau:
- - Nợ tiền hàng hóa theo hợp đồng nguyên tắc số 2505/HĐNT/2018/HT-NCC và hợp đồng số 23/HĐNT/2019/HT-NCC đã ký, giá trị: 3.035.603.700 đồng.
- - Tiền lãi chậm thanh toán theo quy định của Hợp đồng nguyên tắc đã ký (số liệu tạm tính đến ngày 15/11/2023: 2.266.259.363 đồng.
Tổng cộng (đồng): 5.301.863.063 (bằng chữ: năm tỷ, ba trăm linh một triệu, tám trăm sáu mươi ba nghìn, không trăm sáu mươi ba đồng)
Sau ngày 15/11/2023, nếu Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 chưa thanh toán hết nợ và lãi tạm tính nêu trên thì số tiền lãi chậm trả sẽ được tính bổ sung đến ngày thực tế Công ty Đ1 - Tập đoàn T2 thanh toán toàn bộ số tiền phải thanh toán cho Công ty Đ.
Bị đơn là Công ty Cổ phần Đ1 trình bày:
1. Công nợ thực tế giữa Kim Khí H và NCC là 1.855.159.762 đồng, không phải 3.035.603.700 như Kim Khí Hà Tây yêu cầu:
- - Giữa Công ty Đ và Công ty Đ1 có giao kết với nhau 02 Hợp đồng nguyên tắc về việc mua bán các loại thép xây dựng: Hợp đồng số 2505/HĐNT/2018/HT-NCC ngày 25/8/2018 và Hợp đồng số 23/HĐNT/2019/HT-NCC ngày 21/01/2019. Theo đó Công ty Đ sẽ cung cấp thép cho Công ty Đ1. Đơn giá thép: theo từng đơn hàng cụ thể. Thời hạn thanh toán: theo từng đơn hàng cụ thể. Nếu quá thời hạn thỏa thuận mà Bên A chưa thanh toán dứt điểm tiền hàng thì phải chịu lãi suất 3đ/kg/ngày (chưa bao gồm VAT).
- - Thực hiện các hợp đồng đã giao kết từ tháng 6/2018 đến tháng 1/2020, Công ty Đ đã cung cấp thép cho Công ty Đ1 và Công ty Đ1 cũng thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Kim Khí Hà T1 theo đúng giao kết của Hợp đồng. Tuy nhiên, do việc kinh doanh gặp nhiều khó khăn, NCC còn công nợ với Kim Khí Hà T1.
- - Ngày 21/5/2020, có biên bản làm việc giữa đại diện NCC và Kim Khí H. Theo đó, đại diện Kim Khí H xác nhận: Tổng công nợ theo sổ sách kế toán hai bên đến ngày 20/5/2020 Công ty Đ1 còn nợ Kim Khí H số tiền 3.874.147.250 đồng. Để giải quyết khó khăn trong việc thanh toán công nợ, Kim Khí H đồng ý giảm 10% giá trị công nợ còn lại nói trên, không tính lãi trả chậm. Kiến nghị, đề xuất: Sau khi công ty C đồng ý giám 10% tổng giá trị công nợ còn lại nói trên. Đề nghị công ty Đ1, Tập đoàn T2 thanh toán trả cho Công ty chúng tôi hết số nợ còn lại nói trên trong tháng 5/2020 và tháng 6/2020.
- - Ngày 03/11/2020, Đ có văn bản số 79VB/KKHT gửi Công ty Đ1 đề nghị thanh toán công nợ. Theo đó xác nhận: Giá trị công nợ là 3.874.147.250 đồng. Sau khi giảm 10% (theo văn bản ngày 21/5/2020), công nợ còn lại: 3.469.643.786 đồng. Công ty Đ1 đã thanh toán (ngày 25/6/2020 và 13/8/2020): 2.000.000.000 đồng. Công nợ còn lại: 1.469.643.786 đồng.
- - Ngày 08/12/2021, Kim Khí H có văn bản số 73VB/KKHT gửi NCC. Theo đó: Công nợ là 3.855.159.762 đồng. Do NCC không thực hiện theo thỏa thuận nên Kim Khí H không chấp nhận việc giảm 10% nữa. Đề nghị NCC trả hết công nợ cho Kim Khí Hà T1 số tiền 1.855.159.762 đồng.
- - Như vậy, công nợ thực tế của NCC được Kim Khí H xác nhận qua rất nhiều văn bản/thông báo không phải là 3.035.603.700 đồng như Kim Khí Hà T1 yêu cầu tại Đơn khởi kiện.
- - Tại Biên bản làm việc ngày 21/5/2020, nôi dung NCC thanh toán hết công nợ trong tháng 5 và tháng 6/2020 là ở phần đề xuất của Kim Khí H. Trong biên bản làm việc không có nội dung nào thể hiện rằng nếu NCC thanh toán hết trong tháng 5, 6/2020 thì Kim Khí Hà T1 mới giảm 10% cho NCC. Do vậy, công nợ thực tế giữa hai bên là 1.469.643.786 đồng.
2. Về yêu cầu thanh toán khoản lãi chậm thanh toán 2.266.259.363 đồng.
- - Số lãi chậm thanh toán 2.266.259.363 đồng mà Kim Khí H đưa ra trên giá trị công nợ gốc 3.035.603.700 đồng. Trong khi thực tế công nợ gốc giữa hai bên chỉ là 1.469.643.786 đồng. Do vậy, việc Kim Khí Hà T1 yêu cầu thanh toán lãi như trên là không đủ cơ sở.
- - Lần Công ty Đ1 thanh toán công nợ gần nhất cho Công ty Đ là 13/8/2020. Tại các văn bản yêu cầu thanh toán công nợ, Công ty Đ không có yêu cầu trả nợ lãi chậm thanh toán.
- - Đến 16/11/2023, Công ty Đ khởi kiện Công ty Đ1. Từ ngày 13/8/2020 đến 16/11/2023 đã quá 2 năm, hết thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu lãi phát sinh theo quy định tại Điều 319 Luật Thương mại.
Căn cứ các nội dung trình bày nêu trên, Công ty Đ1 kính đề nghị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, ông Thẩm phán xác định giá trị công nợ thực tế giữa Kim Khí H và Công ty Đ1 là 1.469.643.786 đồng; Kính đề nghị Q tòa áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 319 đối với yêu cầu trả lãi chậm thanh toán của Công ty Đ.
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Toà án buộc bị đơn phải thanh toán khoản tiền nợ gốc 3.035.603.700 đồng và tiền lãi chậm trả tính đến hết ngày 21/11/2024, theo lãi suất 3đ/1kg/1 ngày theo hợp đồng (hoặc lãi suất tương đương 6,5%/năm). Tổng cộng: 3.035.603.700 đồng (nợ gốc) + 2.499.680.970 đồng (lãi) = 5.535.284.670 đồng (Năm tỷ năm trăm ba mươi lăm triệu hai trăm tám mươi bốn nghìn sáu trăm bảy mươi đồng).
Đại diện bị đơn trình bày: Căn cứ biên bản làm việc và các văn bản do Công ty TNHH Đ gửi Công ty Cổ phần Đ1 thì công nợ thực tế giữa Công ty Cổ phần Đ1 và Công ty TNHH Đ là 1.469.643.786 đồng. Và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu đòi lãi chậm trả của nguyên đơn do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã quá thời hạn 02 năm tính từ ngày thanh toán cuối củng 13/8/2020 của Công ty Cổ phần Đ1 theo quy định tại Điều 319 Luật thương mại.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật tố tụng.
Về Nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải thanh toán nợ gốc và tiền lãi chậm trả phát sinh tính đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất quy định Bộ luật dân sự.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- - Về tố tụng: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
- - Về nội dung:
1. Về nghĩa vụ trả nợ gốc:
Giữa Công ty TNHH Đ và Công ty Cổ phần Đ1 ký kết Hợp đồng nguyên tắc số 2505/HĐNT/2018/HT-NCC ngày 25/05/2018 và Hợp đồng nguyên tắc số 23/HĐNT/2019/HT-NCC ngày 21/01/2019 với thỏa thuận Công ty TNHH Đ thực hiện việc cung cấp thép xây dựng cho Công ty Cổ phần Đ1 để xây dựng các dự án nhà cao tầng, nhà thấp tầng tại Khu đô thị D, phường D, quận H, thành phố Hà Nội. Việc thực hiện Hợp đồng sẽ theo các yêu cầu đặt hàng của Công ty Cổ phần Đ1.
Quá trình thực hiện hợp đồng hai bên không có tranh chấp về số lượng, khối lượng, chất lượng hàng hóa hay các điều khoản liên quan 02 Hợp đồng kinh tế. Ngày 02/1/2020, Công ty TNHH Đ và Công ty Cổ phần Đ1 đã thống nhất ký Biên bản đối chiếu, xác nhận công nợ và cam kết trả nợ. Theo biên bản đối chiếu công nợ, đến hết ngày 31/12/2019 Công ty Cổ phần Đ1 còn nợ Công ty TNHH Đ 9.335.603.700 đồng (Chín tỷ ba trăm ba mươi lăm triệu sáu trăm linh ba nghìn bảy trăm đồng).
Như vậy, các bên đã thống nhất xác định nghĩa vụ thanh toán của Công ty Cổ phần Đ1 từ thời điểm 01/1/2020 là 9.335.603.700 đồng (Chín tỷ ba trăm ba mươi lăm triệu sáu trăm linh ba nghìn bảy trăm đồng).
Công ty TNHH Đ cung cấp chứng từ báo có xác định Công ty Cổ phần Đ1 đã thanh toán cho Công ty TNHH Đ sau thời điểm đối chiếu công nợ:
| STT | Ngày | Số tiền thanh toán (đồng) |
|---|---|---|
| 1 | 17/01/2020 | 1.000.000.000 |
| 2 | 17/01/2020 | 2.000.000.000 |
| 3 | 22/01/2020 | 1.000.000.000 |
| 4 | 09/04/2020 | 300.000.000 |
| 5 | 25/06/2020 | 1.000.000.000 |
| 6 | 13/08/2020 | 1.000.000.000 |
| Tổng | 6.300.000.000 | |
Và xác định Công ty Cổ phần Đ1 còn nợ 3.035.603.700 đồng (Ba tỷ không trăm ba mươi lăm triệu sáu trăm linh ba nghìn bảy trăm đồng).
Bị đơn cung cấp các tài liệu Biên bản làm việc ngày 21/5/2020; Văn bản số 79VB/KKHT ngày 03/11/2020; Văn bản số 73VB/KKHT ngày 08/12/2021 và cho rằng thực tế công nợ Công ty Cổ phần Đ1 còn nợ Công ty TNHH Đ chỉ là 1.469.643.786 đồng (Một tỷ bốn trăm sáu mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi sáu đồng).
Xét thấy, các tài liệu do bị đơn cung cấp không được nguyên đơn thừa nhận là tài liệu đối chiếu công nợ mà chỉ là những văn bản nhằm giải quyết công nợ giữa hai công ty tại thời điểm đó; Công ty TNHH Đ không công nhận giá trị pháp lý của các văn bản này. Căn cứ các tài liệu chứng từ về việc Công ty Cổ phần Đ1 thanh toán cho Công ty TNHH Đ và Biên bản đối chiếu công nợ ngày 02/11/2020 thì khoản nợ gốc Công ty Cổ phần Đ1 còn nợ Công ty TNHH Đ là 3.035.603.700 đồng. Công ty Cổ phần Đ1 không cung cấp được các chứng từ thanh toán khác ngoài các tài liệu nguyên đơn cung cấp nên không có cơ sở xác định khoản nợ gốc của Công ty Cổ phần Đ1 là 1.469.643.786 đồng như đề nghị của Công ty Cổ phần Đ1.
2. Về yêu cầu tiền lãi chậm trả:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng hóa, căn cứ để yêu cầu là Biên bản đối chiếu công nợ ngày 02/11/2020 và các chứng từ thanh toán, các bên không tranh chấp về nội dung hay điều khoản của Hợp đồng mua bán do đó cần áp dụng Điều 280 Bộ luật dân sự 2015 để buộc bị đơn thanh toán khoản nợ gốc còn lại. Do đó, trách nhiệm trả lãi đối với khoản tiền chậm trả cũng được áp dụng theo Điều 357 Bộ luật dân sự 2015. Tại biên bản đối chiếu công nợ 02/11/2020, các bên không có thỏa thuận về nghĩa vụ trả lãi chậm thanh toán cũng như điều khoản chuyển tiếp nghĩa vụ trả lãi chậm thanh toán do đó không có cơ sở áp dụng mức lãi suất 3đ/kg/ngày hay mức lãi suất tương đương là 6,5%/năm cùng phương thức tính như đề nghị của Công ty TNHH Đ.
Đối với yêu cầu của bị đơn đề nghị áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu trả lãi chậm trả của nguyên đơn. Xét thấy, nghĩa vụ trả lãi đối với khoản tiền chậm trả phát sinh theo thời gian ngày tháng năm. Theo đó, ngày 16/11/2023, Công ty TNHH Đ có đơn khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện là 03 năm theo Điều 429 Bộ luật dân sự 2015 đối với yêu cầu trả lãi chậm trả hết thời hiệu khởi kiện đối với khoảng thời gian từ ngày 16/11/2020 trở về trước, từ ngày 17/11/2020 yêu cầu trả lãi chậm trả của nguyên đơn vẫn còn thời hiệu. Do đó, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện của bị đơn đối với yêu cầu trả lãi chậm trả của nguyên đơn, thời gian tính lãi chậm trả được tính bắt đầu từ ngày 17/11/2020 đối với khoản nợ gốc Công ty Cổ phần Đ1 chưa thanh toán cho Công ty TNHH Đ.
Buộc Công ty Cổ phần Đ1 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH Đ số tiền nợ gốc: 3.035.603.700 đồng (Ba tỷ không trăm ba mươi lăm triệu sáu trăm linh ba nghìn bảy trăm đồng); Lãi chậm trả: 3.035.603.700 đồng x 10% x 04 năm 04 ngày (từ ngày 17/11/2020 đến 21/11/2024) = 1.217.568.168đồng; Tổng cộng: 4.253.171.869 (Bốn tỷ hai trăm năm mươi ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi chín đồng).
- - Về án phí: Công ty Cổ phần Đ1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Công ty Công ty TNHH Đ không phải chịu án phí, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- - Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- - Căn cứ Điều 166, 280, 429, 357, 468 Bộ luật dân sự;
- - Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ đối với Công ty Cổ phần Đ1.
2. Buộc Công ty Cổ phần Đ1 phải trả cho Công ty TNHH Đ số tiền nợ gốc và lãi chậm trả tính đến ngày 21/11/2024 là: 4.253.171.869 (Bốn tỷ hai trăm năm mươi ba triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi chín đồng). Trong đó: 3.035.603.700 đồng (nợ gốc); 1.217.568.168đồng (tiền lãi).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
Công ty Cổ phần Đ1 phải nộp 112.253.172 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Công ty TNHH Đ không phải chịu án phí, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 56.650.000đồng (bằng chữ: Năm mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0015182 ngày 22/04/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhân
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Đình Văn |
Bản án số 91/2024/KDTM- ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 91/2024/KDTM- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán
