1
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2024/HS-ST
Ngày: 15 – 11 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Kim Tuyến
2. Bà Trương Thị Ngọc Linh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2024/HSST ngày 14 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HS ngày 23/10/2024; Thông báo hoãn phiên tòa số 18/TB-TA ngày 08/11/2024 đối với bị cáo:
Trần Văn B, sinh năm 1975; tại: tỉnh Quảng Bình.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Xây dựng; Trình độ học vấn: 6/12.
Nơi cư trú: Tổ D, khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Cha: Trần Văn N (đã chết), Mẹ: Hoàng Thị L (đã chết); Bị cáo có 05 chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1968, nhỏ nhất là bị cáo; bị cáo có vợ là Dư Thị Hà T, sinh năm 1979 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 người con tên Trần Thanh T1, sinh năm 2003 và Trần Thanh T2, sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không
Ngày 12/5/2023, có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt của ông Dư Văn P số tiền 100.000.000 đồng, xảy ra tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Ngày 18/7/2024 bị khởi tố. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/7/2024, đến ngày 20/8/2024 được Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam thay bằng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2
- Bị hại: Ông Dư Văn P, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Tổ E, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quốc C, sinh năm: 1969. Nơi cư trú: Tổ D, khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dư Văn P có em gái tên Dư Thị Hà T, sinh năm 1979, nơi cư trú: Tổ D, khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước, chị Dư Thị Hà T là vợ của Trần Văn B đã ly hôn.
Vào khoảng tháng 3/2023, do gia đình ông Dư Văn P có ý định lo cho con trai của ông P là Dư Văn M, sinh năm 2003 đang là Công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân tại Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh B được vào biên chế để phục vụ lâu dài trong ngành Công an nhân dân nên ông P có nói sự việc trên cho Trần Văn B biết. Sau khi biết được ý định trên của gia đình ông P thì Trần Văn B nhận lời sẽ giúp cho Dư Văn M được vào biên chế trong ngành Công an nhân dân. Sau đó, Trần Văn B tự nghĩ ra giá cả rồi báo cho ông P biết về chi phí để lo cho cháu M vào biên chế ngành Công an hết số tiền 200.000.000 đồng, nghe vậy ông P đồng ý.
Đến ngày 12/5/2023, Trần Văn B gọi điện thoại cho ông P nói chuẩn bị trước số tiền 100.000.000 đồng để lo cho M được vào biên chế trong ngành Công an nhân dân thì ông P đồng ý. Khoảng 19 giờ cùng ngày, B một mình đến nhà ông P và ông P đưa cho B số tiền 100.000.0000 đồng. Sau khi nhận được số tiền từ ông P, B đã tiêu xài cá nhân hết số tiền 100.000.000 đồng.
Đến ngày 15/02/2024, Dư Văn M thực hiện xong nghĩa vụ trong Công an nhân dân nhưng không được vào biên chế trong ngành Công an nhân dân và xuất ngũ trở về địa phương. Lúc này gia đình ông P yêu cầu Trần Văn B trả lại toàn bộ số tiền nêu trên nhưng B không trả cho gia đình ông P.
Đến ngày 13/5/2024, ông Dư Văn P đến Công an huyện H tố cáo và yêu cầu xử lý Trần Văn B theo quy định của pháp luật về sự việc trên.
Vật chứng thu giữ của vụ án: Không có
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra và đến trước khi Tòa án mở phiên tòa tòa, gia đình Trần Văn B đã tự nguyện bồi thường cho ông Dư Văn P số tiền 60.000.000 đồng, số tiền còn lại ông P thống nhất thỏa thuận với Trần Văn B mỗi tháng B trả cho ông P số tiền là 3.000.000đ cho đến khi trả hết nợ, ông P và bị cáo tự thảo thuận với nhau về bồi thường dân sự nên ông P không yêu cầu Tòa án án giải quyết vấn đề bồi thường dân sự trong vụ án này.
3
Tại Cáo trạng số 80/CT-VKS ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Lời khai của Bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu khác được xem xét tại phiên tòa. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn B mức hình phạt từ 26 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên như đề nghị trong nội dung bản cáo trang.
Tại phiên tòa ông Trần Quốc C (anh bị cáo) trình bày đã thay bị cáo B bồi thường thêm cho bị hại P tổng cộng đã bồi thường hai lần với số tiền 60.000.000 đồng và không yêu cầu gì đối với bị cáo Trần Văn B nên đề nghị không xem xét.
Bị cáo và người bị hại không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người làm chứng Dư Văn M vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, truy tố, người làm chứng đã có bản trình bày ý kiến; ý kiến của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan và tình tiết của vụ án, việc vắng mặt người làm chứng không làm
4
ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.
[2] Căn cứ vào lời khai thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố được công khai tại phiên tòa, lời khai của bị hại có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn B như sau:
Ngày 12/5/2023, Trần Văn B đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối tự cho rằng bản thân mình có thể xin cho Dư Văn M là con trai của ông Dư Văn P vào biên chế phục vụ lâu dài trong ngành Công an nhân dân, sau đó chiếm đoạt của gia đình ông Dư Văn P số tiền 100.000.000 đồng. Ngày 15/02/2024, Dư Văn M thực hiện xong nghĩa vụ trong Công an nhân dân nhưng không được vào biên chế trong ngành Công an nhân dân và xuất ngũ trở về địa phương. Lúc này gia đình ông P yêu cầu Trần Văn B trả lại toàn bộ số tiền nêu trên nhưng B không trả cho gia đình ông P. Đến ngày 13/5/2024, ông Dư Văn P đến Công an huyện H tố cáo và yêu cầu xử lý hành vi của Trần Văn B theo quy định của pháp luật.
[3] Xét lời khai của Bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra đánh giá tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của anh Dư Văn P tổng số tiền 100.000.000 đồng do bị cáo Trần Văn B thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như các điều luật viện dẫn trên là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[4] Xét hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo biết không có khả năng xin việc cho con bị hại nhưng bị cáo đã dùng hành vi gian dối để lừa đảo chiếm đoạt của bị hại số tiền 100.000.000 đồng sau khi biết được hành vi gian dối của bị cáo, bị hại đã yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã chiếm đoạt nhưng bị cáo vẫn cố tình không trả lại cho thấy ý thức coi thường pháp luật của bị cáo nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình thực hiện.
Sau khi phạm tội Bị cáo tác động gia đình bồi thường, khắc phục phần lớn thiệt hại cho bị hại (bồi thường được số tiền 60.000.000 đồng); bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đã ly hôn vợ và là người trực tiếp nuôi 02 con, là lao động chính trong gia đình; bị cáo đang bị bệnh tiểu đường nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
5
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, là lao động chính trong gia đình, người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung (đã ly hôn vợ); có nơi cư trú rõ ràng, không áp dụng hình phạt tù bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo nên bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, gia đình Trần Văn B đã tự nguyện bồi thường cho ông Dư Văn P số tiền 60.000.000 đồng, số tiền còn lại ông P thống nhất thỏa thuận với Trần Văn B mỗi tháng B trả cho ông P số tiền là 3.000.000đ và ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa ông Trần Quốc C (anh bị cáo) trình bày đã thay bị cáo B bồi thường cho bị hại P số tiền 60.000.000 đồng và không yêu cầu gì đối với bị cáo Trần Văn B nên không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Vật chứng vụ án không thu giữ nên không xử lý.
[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Văn B mức án 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của án treo là 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn B1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu,
6
miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:
Bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Học |
Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 91/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
