Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày 27 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Phương.

Thẩm phán: bà Lê Hoài Thủy;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Thảo Nguyên;

ông Bùi Văn Thảng;

bà Phan Thị Gái.

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Kiều Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xét xử số 01 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn V

(tên gọi khác: N), sinh ngày 10/3/1984 tại tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: nam; nghề nghiệp: ngư nghiệp; trình độ học vấn: 04/12; con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Phạm Thị C, sinh năm 1955; vợ, con: chưa có.

Tiền án: ngày 17/01/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thi hành án tại Trại giam N2, chấp hành xong án phạt tù ngày 24/9/2022.

Tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 10/7/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xử 01 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thi hành án tại Trại tạm giam C, chấp hành xong án phạt tù ngày 13/8/2013.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: bà Trần Thị Hoàng M – Văn phòng L1; địa chỉ: số D T, khu phố D, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: ông Trần Quang T; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 10 phút ngày 12/9/2023, tổ công tác Công an huyện H phối hợp với các lực lượng chức năng, làm nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống ma túy trên tuyến Quốc lộ I, thuộc địa bàn huyện H, tỉnh Quảng Trị phát hiện tại cầu M, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị có đối tượng nam đón xe khách nhãn hiệu Hyundai, biển kiểm soát 73B-002.51, của nhà xe X, đi theo tuyến Quốc lộ I, hướng về thành phố Đ biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội về ma túy nên tiến hành truy đuổi. Khi đến Km59 Quốc lộ I, thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị thì dừng phương tiện kiểm tra, phát hiện đối tượng nói trên ngồi tại hàng ghế thứ 3 (tính từ trên xuống) về phía bên trái nên yêu cầu kiểm tra. Đối tượng khai nhận họ và tên: Nguyễn V, sinh ngày 10/3/1984, nơi cư trú: thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Tổ công tác yêu cầu Nguyễn V lấy những đồ vật, tài liệu đang mang theo để kiểm tra, Nguyễn V lấy từ trong lưng quần Jean, phía trước bụng ra 02 túi nilon trong suốt, mỗi túi có kích thước 12,5x6x3,5cm, bên trong có 01 mảnh giấy màu trắng có chữ A màu xanh được buộc cố định bằng 01 dây cao su màu đỏ và khai nhận bên trong có ma túy tổng hợp, thường gọi là hồng phiến. Số ma túy này Viện mua của Ngô Ngọc B, trú tại xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị, nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác đã thu giữ số viên nén mà Viện giao nộp.

Quá trình điều tra, Nguyễn V khai nhận:

Năm 2019, Viện bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 05 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong thời gian thi hành án phạt tù tại Trại giam N2, Viện quen biết Ngô Ngọc B, trú tại xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Năm 2021 và 2022, lần lượt Biển, Viện chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương. Từ tháng 6/2023, V sử dụng ma túy tổng hợp, thường gọi là hồng phiến. Khoảng tháng 07/2023, B sử dụng số điện thoại 0986.756.xxx gọi đến số điện thoại 0343.980.xxx của Viện hỏi thăm, rồi kết bạn trên ứng dụng facebook, tài khoản facebook của B có tên “Ngô Ngọc B” và của V có tên “Nhí Ơi Viện Ơ”. Sau đó, qua liên lạc trao đổi, B biết Viện có sử dụng ma tuý tổng hợp thường gọi là hồng phiến và Viện biết B có bán ma tuý tổng hợp hồng phiến. Vào tối ngày 08/9/2023, B gọi điện qua ứng dụng facebook, đặt vấn đề bán ma túy tổng hợp cho Viện với giá rẻ, Viện hỏi giá cụ thể thì B cho biết giá 2.000 viên là 15.000.000đ, Viện thấy giá cao nên từ chối thì B bảo Viện cứ lên H gặp B, B sẽ cho thêm 2.000 viên ma túy tổng hợp rồi tính toán với nhau sau. Viện đồng ý và hẹn chuẩn bị đủ tiền rồi giao dịch. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 11/9/2023, V dùng số điện thoại 0384.098.xxx gọi đến số 0986756246 của B, đặt mua 4.000 viên ma tuý tổng hợp hồng phiến, B đồng ý bán với giá 30.000.000đ, thống nhất ngày 12/9/2023, Viện sẽ đến huyện H gặp B để giao dịch. Khoảng 06 giờ ngày 12/9/2023, Viện đón xe khách biển kiểm soát 73B-002.51, của nhà xe X, từ thị xã B, tỉnh Quảng Bình đi đến huyện H, tỉnh Quảng Trị. Trên đường đi, B gọi điện cho Viện đọc số tài khoản ngân hàng M1, mang tên Ngô Ngọc B để V chuyển tiền mua ma tuý. Sau đó, Viện vào ứng dụng trên máy điện thoại di động, chuyển 15.000.000đ từ tài khoản số 0343980799, mở tại ngân hàng M1 của Viện, đến số tài khoản của B. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, V xuống xe tại cầu M thuộc xã T, huyện H, rồi gọi điện thông báo cho B biết, B sử dụng xe mô tô tay ga, màu đen, không rõ biển kiểm soát đón và chở V đến cổng nhà của B. Tại đây, V đưa thêm cho B 15.000.000đ để mua ma túy, B nhận tiền rồi điều khiển xe đi khoảng 05 phút sau quay lại, lấy từ trong lưng quần phía trước bụng ra 02 túi nilon trong suốt giao cho Viện. Viện nhận rồi cất vào lưng quần phía trước bụng. Sau đó, B nói cho V biết bên trong 02 túi nilon vừa giao có 4.000 viên ma túy tổng hợp và đưa cho Viện 500.000đ, rồi chở Viện đến cầu M đón xe quay về Quảng Bình. Viện đón xe khách biển kiểm soát 73B-002.51, lên ngồi ở hàng ghế thứ 3, phía bên trái. Xe khách di chuyển theo Quốc lộ I, khi đến đoạn đường thuộc thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang.

- Tại Bản kết luận giám định số 907/KL-KTHS ngày 20/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q xác định:

Các viên nén màu hồng trong túi giấy niêm phong, ký hiệu MT1, có tổng khối lượng 340,50g là ma túy loại Methamphetamine; các viên nén màu xanh trong phong bì giấy niêm phong, ký hiệu MT2, có tổng khối lượng 3,248g không tìm thấy chất ma túy. Sau giám định, được niêm phong trong túi niêm phong, ký hiệu: PS2, mã số PS2 1914429.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

- Tại Bản kết luận giám định số 985/KL-KTHS ngày 11/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Trên bề mặt 02 túi ni lông trong suốt gửi đến giám định phát hiện có dấu vết đường vân, nhưng dấu vết đường vân bị mờ nhòe, đặc điểm ít, không đủ yếu tố giám định.

* Ngoài số viên nén nêu trên, quá trình bắt người phạm tội quả tang còn tạm giữ:

- 02 túi nilon trong suốt, không rõ hình dạng, kích thước; 02 mảnh giấy màu trắng, không rõ hình dạng, kích thước, trên bề mặt mỗi mảnh có in ký hiệu chữ A màu xanh; 14 dây cao su màu đỏ; 16 túi nilon màu xanh và 04 túi nilon màu hồng, loại túi zip, trên bề mặt túi nilon màu hồng có in ký hiệu chữ A, màu trắng, kích thước mỗi túi là (09x6,5)cm. Khi tạm giữ được niêm phong trong túi niêm phong, ký hiệu B1. Sau giám định, được niêm phong trong túi giấy, ký hiệu: PS2 1904117.

- 03 chiếc điện thoại gồm: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, màu đen, bàn phím số, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng bên trong có gắn 01 thẻ sim viettel; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màu trắng bạc, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 thẻ sim viettel. Sau giám định, được niêm phong trong túi giấy, ký hiệu: KL 1122.

- 500.000đ tiền Việt Nam đang lưu hành. Sau giám định, được niêm phong trong túi giấy, ký hiệu PS3A 094782 (hiện đang tạm giữ tại kho bạc nhà nước tỉnh Q theo biên bản giao nhận tài sản số 05/2024/BBBG-CA tỉnh Q ngày 24/01/2024).

Cáo trạng số 50/CT-VKS-P1 ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Nguyễn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 249, điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn V từ 16 (mười sáu) năm đến 18 (mười tám) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

+ Tịch thu, tiêu hủy bao gói, ma túy hoàn lại sau giám định.

+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 03 điện thoại của bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 500.000 đồng.

- Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn V trình bày: đồng ý với Cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS xử mức thấp nhất mà VKS đề nghị là 16 (mười sáu) năm tù.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về Cáo trạng, các quyết định, kết luận tố tụng có trong hồ sơ vụ án.

Tại lời nói sau cùng bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Thấy rằng qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy: tại biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 12h30 phút ngày 12/9/2023 (bút lục 1, 2, 3) và biên bản ghi lời khai đối với ông Trần Quang T, bà bà Nguyễn Thị L (bút lục 250 đến 255) thể hiện bị cáo Nguyễn V đã có hành vi đón xe khách biển kiểm soát 73B-002.51 từ thị xã B, tỉnh Quảng Bình đi đến huyện H, tỉnh Quảng Trị. Sau đó, V đã đón lại xe khách này từ cầu M, xã T, huyện H về lại Quảng Bình. Khi đến đoạn đường thuộc thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Nguyễn V khai nhận vào ngày 11/9/2023, V liên lạc với Ngô Ngọc B (trú tại xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị) để mua ma túy, bị cáo V đã chuyển 15.000.000 đồng từ tài khoản số 0343980799, mở tại Ngân hàng M1 của Viện đến số tài khoản của Ngô Ngọc B. Khi đến nhà của B, V đưa thêm cho Biển 15.000.000 đồng (tiền mặt) tổng cộng 30.000.000 đồng là để mua 4000 viên ma túy, đang trên đường về lại Quảng Bình thì bị bắt quả tang.

Lời khai ban đầu bị cáo khai: tại biên bản bắt quả tang; bản tự khai/tường trình ngày 12/9/2023 (bút lục 219); tại Biên bản ghi lời khai của Công an huyện H lúc 15 giờ 30 phút ngày 12/9/2023 (bút lục số 222) bị cáo khai nhận mua ma túy: “nhằm mục đích đưa về thị xã B, tỉnh Quảng Bình để sử dụng và bán lại cho người khác với giá 50.000 đồng trên mỗi viên”.

Tuy nhiên, kể từ ngày 15/9/2023 Nguyễn V thay đổi mục đích mua 4.000 viên ma túy về chỉ để sử dụng, với lý do vì mới bị bắt tâm lý hoảng loạn nên khai mua ma túy về bán.

Thấy rằng: bị cáo khai nhận là người nghiện ma túy từ tháng 6/2023 và đã mua ma túy nhiều lần tại thị xã B với giá 30.000đồng – 50.000 đồng/01 viên ma túy để sử dụng. Bị cáo chỉ là người làm thuê được trả công khoảng 5 đến 7 triệu đồng mỗi tháng, công việc không ổn định nhưng lại bỏ ra 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng mua 4000 viên ma túy để sử dụng dần là không thực tế. Mặt khác, giá mỗi viên ma túy mua tại xã T, huyện H chỉ 7.500 đồng/01viên, trong khi bị cáo đã mua tại thị xã B giá 30.000 đồng/01 viên, bị cáo khai mua về sử dụng và bán lẻ với giá 50.000 đồng/ 01 viên là phù hợp với hoàn cảnh thực tế.

Xét lời khai ban đầu của bị cáo là: “Tôi mua ma túy trên với mục đích đưa về thị xã B, tỉnh Quảng Bình để sử dụng và bán lại cho người khác với giá 50.000 đồng” thấy hành vi bị cáo Nguyễn V mua 4000 viên ma túy tổng hợp của Ngô Ngọc B trú tại xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị cất giấu trong người nhằm mục đích đưa về thị xã B, tỉnh Quảng Bình sử dụng và bán lại cho người khác là có dấu hiệu của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 BLHS.

Phiên tòa xét xử ngày 14/8/2024, Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung, yêu cầu chứng minh bị cáo Nguyễn V có dấu hiệu của tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhận dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; với tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thông qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa thấy bị cáo Nguyễn V khai nhận mục đích mua 4.000 viên ma túy về chỉ để sử dụng và lý giải lý do vì mới bị bắt tâm lý hoảng loạn nên khai mua ma túy về bán. Vì vậy, không chứng minh được bị cáo mua ma túy để đích bán lại cho người khác nên hành vi mang theo người 4000 viên ma túy tổng hợp của bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3]. Xét tính chất vụ án và mức độ của bị cáo thấy:

Hành vi tàng trữ 340,50g ma tuý loại Methamphetamine của bị cáo Nguyễn V là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, mà còn để lại hậu quả huỷ hoại sức khoẻ của nhiều thế hệ, gây tác hại nguy hiểm đến giống nòi, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn.

Hội đồng xét xử thấy trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, bị cáo có 01 tiền án về tội “trộm cắp tài sản” chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa được xóa án tích, bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tình tiết tăng nặng, xét hành vi phạm tội của bị cáo với khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ lớn, gấp hơn 3 lần tang số mức khởi điểm của khung hình phạt. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm bị cáo mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

[4]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thừa nhận hành vi mua ma túy từ T, H, Quảng Trị đưa về Quảng Bình trên đường về thì bị bắt nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nghề ngư nghiệp, thu nhập không ổn định, mặt khác bị cáo còn phải chấp hành án phạt tù nên Hội đồng xét xử cần quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Đối với những đối tượng có liên quan:

Đối với nội dung lời khai của Nguyễn V, về việc mua ma túy của Ngô Ngọc B, ở xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra, xác định đối tượng là Ngô Ngọc B, sinh năm 1990, nơi thường trú: thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị, sử dụng tài khoản số 0374387246, mở tại Ngân hàng M1. Quá trình điều tra, Ngô Ngọc B không có mặt tại nơi cư trú, không rõ làm gì, ở đâu. Vì vậy, chưa đủ cơ sở kết luận vai trò của Ngô Ngọc B trong vụ án, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Trần Quang T, sinh ngày 04/6/1973, nơi thường trú: tổ dân phố N, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình là chủ xe kiêm lái xe, kết quả điều tra xác định Trần Quang T không biết việc Nguyễn V cất giấu ma túy trong người khi lên xe ô tô khách biển kiểm soát 73B-002.51 nên Cơ quan điều tra không xử lý.

[7]. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu, tiêu hủy số ma túy và bao gói còn lại sau giám định.
  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại Nokia, 01 điện thoại Iphone và 01 điện thoại Samsung của bị cáo là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
  • - Đối với số tiền có mệnh giá 500.000 đồng tiền Việt Nam: đây là số tiền mà Ngô Ngọc B đưa cho bị cáo trước khi bắt xe về, bị cáo khai số tiền này Biển giảm cho bị cáo trong số tiền 30.000.000 đồng tiền mua ma túy nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[8]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[9]. Do thời hạn tạm giam bị cáo còn dưới 45 ngày nên ra Quyết định tạm giam để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn V (tên gọi khác: N) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn V 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/9/2023.

2. Xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • * Tịch thu, tiêu hủy:
  • - 01 (một) Túi giấy niêm phong, ký hiệu: PS2, mã số PS2 1914429, bên ngoài có họ tên và chữ ký của Ngô Thị T1, Lê Anh T2, Trần Trung H và hình dấu Phòng K Công an tỉnh Q. (kèm theo Kết luận giám định số: 907/KL- KTHS, ngày 20/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q).
  • - 01 (một) Túi giấy niêm phong, ký hiệu: PS2 1904117, bên ngoài có họ tên và chữ ký của Nguyễn Thị Thanh H1, Trần Văn N1, Trần Trung H và hình dấu Phòng K Công an tỉnh Q. (kèm theo Kết luận giám định số: 985/KL- KTHS, ngày 11/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q).
  • - 01 (một) sim V1 in số 8984048000917822047 (nằm trong điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen); 01 (một) sim V1 in số 8984048000910836061 (nằm trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen) và 01 (một) sim V1 in số 8984048000906072594 (nằm trong điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng bạc).
  • * Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng bạc đựng trong 01 (một) túi giấy niêm phong, ký hiệu: KL 1122, bên ngoài có họ tên và chữ ký của Nguyễn Anh T3, Trương P, Trần Trung H và hình dấu Phòng K Công an tỉnh Q. (kèm theo Kết luận giám định số: 1122/KL-KTHS, ngày 15/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q).
  • (Các vật chứng trên hiện có tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 7 năm 2024)
  • * Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng đựng trong 01 (một) túi giấy niêm phong, ký hiệu: PS3A 094782, bên ngoài có họ tên và chữ ký của Nguyễn Hữu Q1, Lê Anh T2, Trần Trung H và hình dấu Phòng K Công an tỉnh Q. (kèm theo Kết luận giám định số: 920/KL-KTHS, ngày 22/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q). Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đang bảo quản tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Q theo Biên bản giao nhận tài sản số: 05/2024/BBBG-CA tỉnh Q ngày 24/01/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Kho bạc nhà nước tỉnh Q.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn V phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - Công an tỉnh Quảng Trị (PC04);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Trị;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng KTNV;
  • - Lưu: Tổ HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger