Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày 25 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ
  • Các Hội thẩm nhân dân:
  • Ông Bùi Xuân Minh
  • Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Bé N, sinh ngày 15/8/1992, tại Cà Mau. Nơi thường trú: Khóm E, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn B (Đã chết) và bà Trần Thị N1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Vào ngày 08/11/2017, bị Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 12/QĐ-TA). Bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/5/2024 sau đó bị khởi tố và tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Minh D, sinh ngày 12/02/1995. Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (Xin vắng).

Chị Lê Thúy K, sinh ngày 22/10/1990. Địa chỉ: Ấp M, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (Xin vắng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 17/5/2024, tại khu vực trước sân nhà Trương Bé N thuộc khóm E, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh C kết hợp với Công an thị trấn S, huyện T nghi vấn Trương Bé N tàng trữ trái phép chất ma tuý nên tiến hành kiểm tra trên người và khu vực Trương Bé N đang đứng. Lực lượng Công an phát hiện cách vị trí Trương Bé N đang đứng khoảng 02m có 01 gói thuốc lá hiệu Seven diamonds, bên trong có 01 bịch nylon màu trắng, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, nghi là ma tuý do Trương Bé N lấy từ trong túi quần jean bên phải phía trước vứt xuống đất, lực lượng tiến hành thu giữ niêm phong.

Tại kết luận giám định số 274/KL-KTHS ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C. Kết luận:

Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì thư hình chữ nhật ký hiệu A1 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 1,9460 gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ: 01 phong bì hoàn mẫu đã niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh C số 274/KL-KTHS ngày 24 tháng 5 năm 2024, mặt trước có 01 dấu tròn màu đỏ, mặt sau có 07 dấu tròn màu đỏ và tên chữ ký Dương Hải Đ, Trần Hồng T; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Seven diamonds; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, có gắn sim số 0368.570.061; 01 xe máy hiệu Exciter biển số kiểm soát 94B1-554018.

Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố Trương Bé N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Trương Bé N và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Bé N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 phong bì hoàn mẫu đã niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh C số 274/KL-KTHS ngày 24 tháng 5 năm 2024, mặt trước có 01 dấu tròn màu đỏ, mặt sau có 07 dấu tròn màu đỏ và tên chữ ký Dương Hải Đ, Trần Hồng T; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Seven diamonds.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, có gắn sim số 0368.570.061.

Trả lại cho chị Lê Thúy K:

  • 01 xe máy hiệu Exciter biển số kiểm soát 94B1-554018.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội theo nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không tranh luận với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 17/5/2024, tại khu vực trước sân nhà Trương Bé N thuộc khóm E, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh C kết hợp với Công an thị trấn S, huyện T nghi vấn Trương Bé N tàng trữ trái phép chất ma tuý nên tiến hành kiểm tra trên người và khu vực Trương Bé N đang đứng. Lực lượng Công an phát hiện cách vị trí Trương Bé N đang đứng khoảng 02m có 01 gói thuốc lá hiệu Seven diamonds, bên trong có 01 bịch nylon màu trắng, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, nghi là ma tuý do Trương Bé N lấy từ trong túi quần jean bên phải phía trước vứt xuống đất, lực lượng tiến hành thu giữ niêm phong. Kết quả giám định xác định tinh thể rắn màu trắng mà Trương Bé N tàng trữ là ma tuý, có khối lượng 1,9460 gam, loại Methamphetamine.

Như vậy, Trương Bé N đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý.

Bị cáo Trương Bé N đã có hành vi cất giữ chất ma túy trái phép nhằm để sử dụng là đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo Trương Bé N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù là phù hợp. Từ đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo nhưng vẫn đảm bảo giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 phong bì hoàn mẫu đã niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh C số 274/KL-KTHS ngày 24 tháng 5 năm 2024, mặt trước có 01 dấu tròn màu đỏ, mặt sau có 07 dấu tròn màu đỏ và tên chữ ký Dương Hải Đ, Trần Hồng T; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Seven diamonds không còn tính năng sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, có gắn sim số 0368.570.061 là tài sản của bị cáo nhưng bị cáo dùng để liên lạc, thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - 01 xe máy hiệu Exciter biển số kiểm soát 94B1-554018 của chị Lê Thúy K cho anh Lê Minh D mượn chở bị cáo N. Chị K, anh D không biết việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, anh D, chị K yêu cầu cho chị K được nhận lại xe máy nêu trên là phù hợp nên trả lại xe máy hiệu Exciter biển số kiểm soát 94B1-554018 cho chị Lê Thúy K.

[5] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trương Bé N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trương Bé N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trương Bé N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 17/5/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 phong bì hoàn mẫu đã niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh C số 274/KL-KTHS ngày 24 tháng 5 năm 2024, mặt trước có 01 dấu tròn màu đỏ, mặt sau có 07 dấu tròn màu đỏ và tên chữ ký Dương Hải Đ, Trần Hồng T; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Seven diamonds.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, có gắn sim số 0368.570.061.

Trả lại cho chị Lê Thúy K:

  • 01 xe máy hiệu Exciter biển số kiểm soát 94B1-554018.

(Các vật chứng Hiện Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trần Văn T1 đang quản lý – Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/9/2024).

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trương Bé N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện TVT;
  • - Cơ quan Điều tra Công an huyện TVT;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện TVT;
  • - Chi cục THADS huyện TVT;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Bùi Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger