Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày: 29/8/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bà: Cao Thị Đào.

Các hội thẩm nhân dân: 1- Ông Đào Văn Kiểm

2- Ông Đào Thị Kim Liên

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.

- Đại diện VKSND thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đinh Diễm Kiều T - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:96/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Đào Hải L, sinh ngày 16 tháng 4 năm 1974; tại Phú Thọ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 4c, khu H, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Kim B (Đã chết) và bà Hoàng Thị B1, sinh năm 1952; Vợ : Đỗ Thị H, sinh năm 1987 (đã ly hôn), vợ: Ngô Thị Thu H1, sinh năm 1981, con: có 02 lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2015 ; tiền án : Không ; tiền sự: 01 ; Ngày 28/01/2021, bị Toà án nhân dân thành phố Việt Trì áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 05/02/2023, bị cáo đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nhân thân: Ngày 02/8/1994, có hành vi trộm cắp tài sản bị Công an thành phố V xử phạt hành chính 70.000 đồng. Do thời gian đã lâu nên không còn lưu trữ hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính nêu trên đối với L; Ngày 15/3/1995, có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bị Công an thành phố V ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo; Ngày 10/10/2004, có hành vi trộm cắp tài sản bị Ủy ban nhân dân xã C xử phạt 400.000 đồng, nộp phạt xong ngày 11/10/2004; Ngày 07/10/2009, bị Ủy ban nhân dân thành phố V áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, ngày 14/10/2011 bị cáo đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường G. Bị cáo đã bị xét xử nhiều lần: tại Bản án số 24/1996/HSST ngày 22/10/1996 của Toà án nhân dân huyện Thanh Ba xử phạt 18 tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản giá trị tài sản 1.310.000 đồng; Bản án số 285/HSST ngày 02/12/1998 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 03 năm tù về hành vi tổ chức sử dụng chất ma tuý; Bản án số 136/HSST ngày 23/8/2005 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt 15 tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản giá trị tài sản 1.300.000 đồng; Bản án số 166/2014/HSST ngày 26/8/2014 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử 18 tháng cải tạo không giam giữ về hành vi trộm cắp tài sản giá trị tài sản 3.300.000 đồng. Đến Bản án số 97/2016/HSST ngày 02/6/2016 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử miễn trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, xác định bị can không còn tiền án, tiền sự. Đối với Bản án số 97/2016/HSST ngày 02/6/2016 bị cáo đã chấp hành xong các nghĩa vụ thi hành án ngày 02/6/2016.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 14/5/2024 đến ngày 22/5/2023 cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với L ngày 23/5/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công An tỉnh P (Bị cáo có mặt).

- Bị hại: Chị Hà Thị Thanh H2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ E, khu I, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:Anh Lê Xuân H3, sinh năm 1992 ; Địa chỉ: Xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần tiền để chi tiêu cá nhân, Đào Hải L – sinh năm 1974, trú tại: khu H, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ là đối tượng nghiện chất ma túy, có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử lý về các tội liên quan đến ma túy và trộm cắp tài sản đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền. Khoảng 08 giờ 00 ngày 12/5/2024, L đi bộ từ nhà đến khu vực phường N, thành phố V để tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 08 giờ 30 phút, L đi vào khu vực đường dân sinh thuộc khu I, phường N, thành phố V. Khi đi qua nhà chị Hà Thị Thanh H2, sinh năm 1988 thuộc tổ E, khu I, phường N, thành phố V, L thấy trong sân nhà chị H2 có để nhiều xe máy trong đó có một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 19H2-6164 cắm sẵn chìa khoá ở ổ điện của xe. L quan sát thấy trong nhà không có người nên dùng tay mở cổng rồi đi vào trong sân. L dắt chiếc xe trên ra ngoài đường phía trước cổng nhà rồi nổ máy điều khiển xe phóng đi. Để tránh bị phát hiện L điều khiển xe đi đến và gửi ở nhà để xe Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 06 giờ 00 ngày 13/5/2024, L đi đến Bệnh viện đa khoa tỉnh P để lấy xe rồi điều khiển xe đến hiệu sửa chữa xe máy Xuân Hoàng có địa chỉ tại xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây, L gặp anh Lê Xuân H3, sinh năm 1992, trú tại: thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (là chủ cửa hàng) và nói với anh H3 đây là xe máy của L sử dụng đã lâu nhưng bị mất giấy tờ. Hiện chiếc xe đã cũ và không có nhu cầu sử dụng nữa nên L muốn bán. Anh H3 đồng ý mua xe của L với giá 2.500.000 đồng mục đích để sử dụng làm phương tiện đi lại trong thôn. L cầm số tiền này đi đến chợ B2, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc mua của một người nam giới không quen biết 01 gói ma tuý Heroin với giá 300.000 đồng (số ma tuý này L đã sử dụng hết cho bản thân) và tiêu sài cá nhân hết 1.245.000 đồng, còn lại 955.000 đồng L cất giấu ở nhà.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ngày 13/5/2024, chị H2 đã làm đơn trình báo sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố V và giao nộp 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh một người đàn ông đã trộm cắp chiếc xe máy của chị. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định đối tượng trộm cắp chiếc xe máy của chị H2 trong ngày 12/5/2024 là Đào Hải L. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố V, L đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và giao nộp 955.000 đồng cho Cơ quan điều tra.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với L. Kết quả dương tính, L có sử dụng chất ma túy.

Căn cứ vào lời khai của Đào Hải L, cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với anh Lê Xuân H3, anh H3 đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu sơn nâu, biển kiểm soát 19H2-6164, số máy C100ME0051107, số khung C100M0051107 đã qua sử dụng để phục vụ điều tra.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản Uỷ ban nhân dân (UBND) thành phố V định giá chiếc xe máy mà Đào Hải L trộm cắp trong ngày 12/5/2024. Tại kết luận định giá số 321/KL-HĐĐGTS ngày 14/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản – UBND thành phố V kết luận:

“Giá 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA DREAM, màu nâu, sản xuất năm 2000, biển kiểm soát 19H2-6164 (Số máy C100ME0051107, số khung C100M0051107), xe đã qua sử dụng có giá là: 9.500.000 đồng”.

Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKS-VT ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố bị cáo Đào Hải Long về tội: Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đào Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Đào Hải L từ 18 đến 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 14/5/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễm phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án và án phí:

  • Xác nhận cơ quan điều tra Công an thành phố V đã trả lại cho Hà Thị Thanh H2 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 19H2-6164 số máy C100ME0051107, số khung C100M0051107 đã qua sử dụng theo biên bản trả lại tài sản ngày 10/7/2024.
  • Trả lại cho bị cáo Đào Hải L 955.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Theo biên lai thu tiền ngày 31/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).
  • Về án phí: Buộc bị cáo Đào Hải L phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đào Hải L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đều thống nhất phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 12/5/2024, tại tổ E, khu I, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, lợi dụng sơ hở của gia đình chị Hà Thị Thanh H2 không khoá cổng và chìa khoá xe vẫn cắm ở ổ điện, L đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 19H2 – 6164 trị giá 9.500.000 đồng của chị H2. Sau khi trộm cắp được tài sản L đem bán lấy tiền mua ma tuý sử dụng và tiêu xài cá nhân. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo có 01 tiền sự đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo có nhân thân sấu: Đã nhiều lần bị xử phạt hành chính có hành vi trộm cắp, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, xử lý hành chính đưa vào trường G. Bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử nhưng đã được xóa án tích, 03 lần về tội trộm cắp tài sản, 01 lần tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, 01 lần về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Bộ luật Hình sự. Do vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung xã hội mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng gì nên miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

  • Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 19H2-6164 số máy C100ME0051107, số khung C100M0051107 đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác minh đã xác định chiếc xe máy biển kiểm soát 19H2-6164 mà L đã trộm cắp là của ông Hà Kim D (bố chị H2), Năm 2014, ông D đã cho chị Hà Thị Thanh H2 sử dụng. Từ đó đến nay, chị H2 chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Ngày 10/7/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Hà Thị Thanh H2 thấy là hợp pháp cần chấp nhận.
  • Đối với số tiền 2.500.000đ là số tiền L bán chiếc xe máy cho anh Lê Xuân H3, số tiền này L tiêu sài cá nhân hết 1.245.000 đồng, mua ma túy để sử dụng hết 300.000 đồng, còn lại 955.000 đồng cơ quan điều tra đã thu giữ của L. Số tiền 2.500.000₫ anh H3 không yêu cầu bị cáo phải trả lại. Do vậy số tiền 955.000 đồng cơ quan điều tra đã thu giữ của L cần trả lại cho bị cáo L.
  • Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của L ngày 13/5/2024, ngày 12/7/2024 Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L bằng hình thức phạt tiền mức phạt 1.500.000 đồng.
  • Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho L tại chợ B2, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc do L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của L, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được để xử lý.
  • Đối với anh Lê Xuân H3 là người đã mua chiếc xe máy của L. Quá trình điều tra xác định khi mua chiếc xe máy trên, anh H3 không biết đây là tài sản do L trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

[4] Về án phí: Bị cáo Đào Hải L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106; Điều 331, 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Đào Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”

    Xử phạt bị cáo Đào Hải L 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 14/5/2024.

    * Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

  2. Về dân sự và xử lý vật chứng vụ án:
    • - Xác nhận cơ quan điều tra Công an thành phố V đã trả lại cho Hà Thị Thanh H2 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 19H2-6164 số máy C100ME0051107, số khung C100M0051107 đã qua sử dụng theo biên bản trả lại tài sản ngày 10/7/2024.
    • - Trả lại cho bị cáo Đào Hải L 955.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Theo biên lai thu tiền ngày 31/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Đào Hải L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND TP.Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • - CA TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND phường Tiên Cát, T.Phú Thọ;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Đào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: L phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger