Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI SƠN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày 20 ngày 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Hà V Sơ

Ông Cầm V Tổ

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử C3 khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Hà V C. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 12/10/1998 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT: Bản M, xã C2, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: Không. Con ông: Hà V M và bà Cầm Thị C. Bị cáo có vợ là Vì Thị P, có 02 con (con lớn sinh năm 2022, con nhỏ sinh năm 2023).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ C3 an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Hà V M2, sinh năm 1975. Có mặt.
  • Ông Lò V V, sinh năm 1977. Có mặt.
  • Hà V S5, sinh năm 2000. Vắng mặt.
  • Lò V C3, sinh năm 1998. Vắng mặt.

Đều trú tại: Bản M, xã C2, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 04/01/2024, Hà V C đi bộ từ nhà đến nhà V hóa bản để dự đám cưới của Lò V C5. Đến khoảng 21 giờ, sau khi uống rượu C nảy sinh ý định đến xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Sau đó C rủ Hà V S5, sinh năm 2000 trú cùng bản đang ở rạp đám cưới đi chơi, Sơn đồng ý. Do không có xe nên C hỏi mượn xe mô tô YAMAHA Exciter, biển kiểm soát 26K1-178.15 của Lò V C3, sinh năm 1998 trú cùng bản để đi chơi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, C điều khiển xe mô tô chở Sơn đi đến khu vực bản Phiêng Phụ, xã Phiêng Cằm thì dừng xe, C bảo Sơn ngồi đợi để đi vào nhà bạn. C đi bộ một mình vào trong bản, cách khoảng 100m thì gặp một người đàn ông không biết tên, địa chỉ đang đứng hút thuốc trước cổng lán nương. C hỏi và mua được 01 gói Hồng phiến gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 600.000VNĐ. Mua được Hồng phiến, C cùng người đàn ông bán ma túy sử dụng hết 12 viên Hồng phiến bằng hình thức đốt hút ngay trước cổng lán nương. Sử dụng xong, C hỏi tên và được biến người đàn ông tên là Mùa A Có. Sau đó, C gói số Hồng phiến còn lại bằng gói nilon màu xanh ban đầu rồi cất giấu trong túi quần phía trước đang mặc và quay lại chỗ Sơn. Gặp Sơn, C nói bạn không có nhà rồi bảo Sơn điều khiển xa mô tô chở C về. Đến rạp, C trả xe mô tô cho C3 rồi đi bộ về nhà ngủ.

Đến 10 giờ ngày 05/01/2024, C mang theo 08 viên Hồng phiến cất giấu trong túi quần phía trước đang mạc rồi điều kiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WinerX, biển kiểm soát 26B2-571.54 của gia đình đến dự đám cưới C5 thì bị tổ C3 tác C3 an xã C2, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa 08 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Hồng phiến. Ngoài ra tạm giữ của Hà V C: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WinerX, biển kiểm soát 26B2-571.54 .

Ngày 05/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra C3 an huyện Mai Sơn phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự C3 an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh khối lượng vật chứng thu giữ của Hà V C, kết quả: 08 viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 0,78 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 208/KLMT ngày 08/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự C3 an tỉnh Sơn La, kết luận:

“Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,78 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,78 gam; loại Methamphetamine”.

Do có hành vi nêu trên, tại Bản cáo trạng số 44/CT-VKSMS ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Hà V C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

  • Tuyên bố bị cáo Hà V C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Hà V C từ 18 đến 22 tháng tù.

  • Không xử phạt bổ sung đối với bị cáo.

  • - Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì do C3 an huyện Mai Sơn phát hành được niêm phong theo quy định, trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu.

  • Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, biển kiểm soát 26K1-178.15, số máy 958444, số khung 189712, có 01 gương chiếu hậu bên trái bị trầy xước nhiều chỗ, kèm theo 01 chìa khóa đã qua sử dụng cho ông Lò V V.

  • Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Winer X, biển kiểm soát 26B2-571.54, số máy 1152336, số khung 033280, có 01 gương chiếu hậu bên trái xe bị trầy xước nhiều chỗ, vỡ hư hỏng nhiều chỗ, kèm theo 01 chìa khóa đã qua sử dụng cho ông Lò V M2.

  • Trả lại 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu vàng trắng, ốp lưng nhựa có in hình họa tiết màu đỏ, đã qua sử dụng cũ kèm 01 sim; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu vàng, ốp lưng nhựa trong suốt, đã qua sử dụng cũ không có sim cho Lò V S5.

  • Trả lại 01 chiếc điện thoại di động VIVO Y36, màu đen xám, đã qua sử dụng cũ kèm 01 sim cho Lò V C3.

  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Hà V C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo nhất trí nội dung luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác nhận chiếc xe máy là tài sản của gia đình, có yêu cầu xin lại tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra C3 an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà V S5, Lò V C3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo thủ tục C.

[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận ngày 04/01/2024, bị cáo mua 600.000VNĐ Hồng phiến của một người đàn ông tại bản Phiêng Phụ, xã Phiêng Cằm. Ngày 05/01/2024, tại khu vực Bản M, xã C2, huyện Mai Sơn, bị cáo bị C3 an xã C2 bắt quả tang thu giữ 0,78 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hà V C đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.

[3] Xét về tính chất:

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển và lưu hành trên thị trường, bị cáo vẫn cố tình mua, tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt phù hợp với tính chất và tương xứng với khối lượng ma túy bị cáo bị thu giữ, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm C.

[5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh, bị cáo là người nghiện ma túy đang sống C cùng bố mẹ và vợ, bản thân không có tài sản riêng có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét xử phạt bổ sung đối với bị cáo Hà V C.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với ma túy bị thu giữ, C3 an đã trích rút toàn bộ tiến hành trưng cầu giám định. Sau giám định không hoàn lại, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 phong bì do C3 an huyện Mai Sơn phát hành được niêm phong theo quy định, trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu. Xét thấy đây là đồ vật liên quan đến hành vi tàng trữ ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Winer X, biển kiểm soát 26B2-571.54 bị thu giữ khi bắt quả tang Hà V C. Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa sơ thẩm xác định, chiếc xe là tài sản C của gia đình bị cáo. Bị cáo ở C với gia đình nên để cho bị cáo đứng tên trên giấy đăng ký xe. Đại diện gia đình ông Hà V M2, sinh năm 1975. Địa chỉ: Bản M, xã C2, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (là bố đẻ của bị cáo) xác nhận không biết việc C tàng trữ ma túy và có nguyện vọng xin lại tài sản để làm phương tiện đi lại. Do đó, cần trả lại chiếc xe cho đại diện gia đình bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, biển kiểm soát 26K1-178.15. Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa sơ thẩm xác định, chiếc xe là tài sản hợp pháp của ông Lò V V, sinh năm 1977. Địa chỉ: Bản M, xã C2, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Việc bị cáo C mượn xe đi mua ma túy, ông không biết và có nguyện vọng xin lại tài sản. Do đó, cần trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu vàng trắng, đã qua sử dụng cũ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu vàng, đã qua sử dụng cũ thu giữ của Lò V S5; 01 chiếc điện thoại di động VIVO Y36, màu đen xám, đã qua sử dụng cũ thu giữ của Lò V C3. Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa sơ thẩm xác định là tài sản hợp pháp của Lò V S5 và Lò V C3, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho chủ sở hữu theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

[7] Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy, Hà V C khai mua của một người đàn ông tên Mùa A Cớ (không biết tuổi, địa chỉ) tại khu vực bản Phiêng Phụ, xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La với giá 600.000VNĐ. Sau khi mua ma túy, C và Có sử dụng hết 12 viên Hồng phiến. Việc trao đổi mua bán không có ai chứng kiến. Quá trình nhận dạng, C không xác định được người bán ma túy cho mình. Ngoài lời khai của C, Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ khác để điều tra mở rộng vụ án. Cần chấp nhận.

Đối với Lò V S5, quá trình điều tra xác định Sơn không biết và không liên quan đến hành vi tàng trữ ma túy của Hà V C. Do đó, cơ quan điều tra C3 an huyện Mai Sơn không đặt vấn đề xử lý đối với Sơn là có căn cứ, cần chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

    Tuyên bố bị cáo Hà V C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt bị cáo Hà V C 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 05/01/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì do C3 an huyện Mai Sơn phát hành được niêm phong theo quy định, trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu.

    Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, biển kiểm soát 26K1-178.15, số máy 958444, số khung 189712, có 01 gương chiếu hậu bên trái bị trầy xước nhiều chỗ, kèm theo 01 chìa khóa đã qua sử dụng cho ông Lò V V.

    Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Winer X, biển kiểm soát 26B2-571.54, số máy 1152336, số khung 033280, có 01 gương chiếu hậu bên trái xe bị trầy xước nhiều chỗ, vỡ hư hỏng nhiều chỗ, kèm theo 01 chìa khóa đã qua sử dụng cho ông Hà V M2.

    Trả lại 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu vàng trắng, ốp lưng nhựa có in hình họa tiết màu đỏ, đã qua sử dụng cũ kèm 01 sim; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu vàng, ốp lưng nhựa trong suốt, đã qua sử dụng cũ không có sim cho Lò V S5.

    Trả lại 01 chiếc điện thoại di động VIVO Y36, màu đen xám, đã qua sử dụng cũ kèm 01 sim cho Lò V C3.

    (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa C3 an huyện Mai Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Sơn số 95/BB-CCTHADS ngày 17/5/2024).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Lò Minh Tuấn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

  4. Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND huyện Mai Sơn;
  • - C3 an huyện Mai Sơn;
  • - Cơ quan THAHS C3 an tỉnh Sơn La;
  • - Chi cục THADS huyện Mai Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tráng A Tếnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger