Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HS-PT

Ngày: 25/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Liễu;

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Hạng;

Ông Nguyễn Văn Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Võ Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 25/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 82/2024/TLPT-HS ngày 19/6/2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị H, sinh ngày 01/01/1971 tại: Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M (Chết) và bà Huỳnh Thị C (Chết); có chồng là Võ Văn Đ, sinh năm 1973 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2014, Nguyễn Thị H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Sổ đỏ) của thửa đất số 123, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, số BT 909552, vào sổ cấp giấy chứng nhận CH03551 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 23/12/2014.

Vào đầu năm 2015, H dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên để vay tiền của một người tên NN (không rõ lai lịch, địa chỉ) với số tiền 50.000.000 đồng (khi vay thì H đưa cho N giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Sau đó, N thông báo với H là đã làm mất sổ đỏ của H nên ngày 01/12/2015, H có đơn khai báo mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gửi tới UBND xã VVăn phòng đăng ký đất đai huyện V đề nghị được cấp lại giấy chứng nhận đối với thửa đất trên.

Ngày 29/01/2016, H đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CA793913, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS00038, đối với thửa đất 123 tờ bản đồ số 29, địa chỉ thửa đất Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.

Đến năm 2017 thì N tìm thấy số đỏ của H đã đưa cho N trước đó và trả lại cho H nên H có hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Ngày 19/01/2018, Nguyễn Thị H đã tặng thửa đất số 123, tờ bản đồ số 29 trên cho Võ Văn Anh V (con trai H) và đã làm thủ tục đăng kí biến động chuyển quyền sử dụng đất sang tên của V.

Do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, mặc dù biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BT 909552 được Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 23/12/2014 đối với thửa đất số 123, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thửa đất thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa do H đứng tên chủ sở hữu không còn giá trị nhưng H vẫn ký hợp đồng vay và thế chấp tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất, số BT 909552 cho Huỳnh Minh T, trú tại thôn B, xã V, huyện V để vay số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). T không biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BT 909552 hiện không còn giá trị nên đồng ý cho H vay tiền. HT làm hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản tại Văn phòng C1 địa chỉ số D Đ, Thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. H vay của T số tiền là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), với lãi suất là 20%/ năm, thời hạn vay là 12 tháng, trả gốc và lãi một lần vào cuối kỳ và T giữ của H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 909552 (giấy không còn giá trị). Đến tháng 09/2019, thời điểm đáo hạn theo hợp đồng, T có yêu cầu H trả lại số tiền đã cho vay cùng lãi suất theo hợp đồng. Tuy nhiên, H không trả mà bỏ trốn khỏi địa phương. Sau khi phát hiện sự việc thì Huỳnh Minh T đã làm đơn tố cáo Nguyễn Thị H. Sau khi làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra thì Nguyễn Thị H đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.

Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, về vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 13/5/2024, Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Thị H giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H trong thời hạn nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 08 (tám) năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, không có tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H trong thời hạn quy định của pháp luật nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ để xác định: Ngày 14/9/2018, tại Văn phòng C1, địa chỉ số D đường Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, bị cáo Nguyễn Thị H biết rõ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 909552 được ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 23/12/2014 đối với thửa đất số 123, tờ bản đồ số 29 tại thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa không còn giá trị sử dụng nhưng bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối lừa anh Huỳnh Minh T nhận thế chấp vay tiền và chiếm đoạt số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) của anh T. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị H: Bị cáo bị truy tố, xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và có mức hình phạt là 08 (tám) năm tù. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về nhân thân của bị cáo, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 08 (tám) năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, không có tình tiết nào mới phát sinh thêm nên Hội đồng xét xử không có

căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị H.

[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[2] Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hạng

Nguyễn Văn Tuấn

Bùi Thị Bích Liễu

* Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND huyện Vạn Ninh;
  • - VKSND huyện Vạn Ninh;
  • - Công an huyện Vạn Ninh;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Vạn Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự phúc thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 91/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyen thi hiep
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger