|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG Bản án số: 91/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18-6-2024 “V/v Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1/- Bà Nguyễn Thị Ngọc Kiều
2/- Bà Trần Thị Quế Minh
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2024/TLST–HNGĐ ngày 28 tháng 03 năm 2024 về “Tranh chấp xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 1998 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Chị Lê Thị Nguyệt H, sinh năm: 1998 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
Nơi tạm trú: Tổ 14, ấp T, thị Trấn L, huyện A, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai ngày 05/3/2024 nguyên đơn anh Nguyễn Thành Đ trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Lê Thị Nguyệt H kết hôn vào năm 2021, hôn nhân là do anh chị tự tìm hiểu và được gia đình 02 bên tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, giấy kết hôn số 46 ngày 23/4/2021. Sau đám cưới vợ chồng thuê nhà trọ sống và đi làm công nhân ở Bình Dương, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến cuối tháng 02/2024 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, có xảy ra cự cãi vợ anh bỏ về quê ở huyện A, tỉnh An Giang, sau đó anh biết được cô H có bạn trai mới nên bỏ anh. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị Nguyệt H.
Về con chung: Không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Lê Thị Nguyệt H: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án có tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng phía bị đơn đều vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:Tại giai đoạn sơ thẩm những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự và tuân thủ đúng quy định pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Thành Đ, anh Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Thành Đ là nguyên đơn trong vụ kiện, có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Lê Thị Nguyệt H là bị đơn trong vụ kiện đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa xét xử lần thứ 2 nhưng chị vẫn vắng mặt không có lý do.Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Thành Đ và chị Lê Thị Nguyệt H.
[2] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thành Đ và chị Lê Thị Nguyệt H kết hôn với nhau vào năm 2021, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang, giấy kết hôn số 46 ngày 23/4/2021. Do vậy, hôn nhân của anh, chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét về mối quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh Đ và chị H chung sống hạnh phúc không lâu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo anh Đ trình bày do bất đồng quan điểm, có xảy ra cự cãi vợ anh bỏ về quê ở huyện A, An Giang, sau đó anh biết được cô H có bạn trai mới nên bỏ anh. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị Nguyệt H. Đối với chị H qua 2 lần mời hòa giải tại tòa chị đều vắng mặt, cán bộ Tòa án có đến tận địa phương nhưng vẫn không ghi được lời khai do chị H vắng mặt. Xét thấy, thời gian chung sống hạnh phúc không lâu thì phát sinh mâu thuẩn và mỗi người đều có cuộc sống riêng, hai bên không có thiện chí hàn gắn lại quan hệ tình cảm, khả năng hàn gắn là không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ là hoàn toàn phù hợp.
[3] Về con chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ vào điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án anh Nguyễn Thành Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào các Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147,227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Thành Đ.
Anh Nguyễn Thành Đ được ly hôn với chị Lê Thị Nguyệt H.
- - Về án phí: Anh Nguyễn Thành Đ phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004562 ngày 28/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Anh Nguyễn Thành Đ và chị Lê Thị Nguyệt H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Kim Hoa |
Bản án số 91/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 91/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Thành Được. Anh Nguyễn Thành Được được ly hôn với chị Lê Thị Nguyệt Hồng.
