Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VỊ THỦY

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 91/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17-7- 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Em.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đông Hà.
  2. Ông Nguyễn Văn Em.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hol là Thư ký Toà án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vị Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2024/TLST – HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Tạ Trung Q, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện gửi Tòa án và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Q tiến đến hôn nhân vào năm 2022 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Nhưng từ năm 2023 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không giải quyết được, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, ý thức đời sống và tâm sinh lý không hợp, có khoảng cách, cách sống và ứng xử không hiểu nhau về mọi mặt. Vợ chồng đã sống ly thân nhau hơn 01 năm nay. Bà N nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với ông Q nên bà yêu cầu ly hôn với ông Q.

Về con chung: có 01 con chung tên Tạ Gia H, (giới tính: Nam), sinh ngày 20/5/2022. Bà N yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Tạ Trung Q trình bày: về quan hệ hôn nhân, con chung như bà N nêu trong đơn là đúng. Đối với yêu cầu ly hôn ông đồng ý ly hôn vì nhận thấy không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn. Về con chung ông đồng ý giao con cho chị N nuôi nhưng ông không cấp dưỡng và được quyền đón con về chơi khi có nhu cầu hoặc khi chị N có chồng khác thì ông được quyền trực tiếp nuôi con.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Hồng N vắng mặt; Ông Q thay đổi ý kiến trước đây, ông không đồng ý ly hôn vì con chung và yêu cầu được nuôi con với lý do cháu H không phát triển bình thường, gọi điện thoại qua vi deo thì cháu không nói chuyện. Về tài sản chung, nợ chung không có không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, địa chỉ cư trú của bị đơn, Toà xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân, Tòa xét thấy: Bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Tạ Trung Q tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của ông bà được công nhận hợp pháp. Quá trình chung sống, ông bà phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau. Bản thân ông Q cũng thừa nhận cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, không còn tình cảm, không còn khả năng hàn gắn. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, không có thiện chí hòa giải với bị đơn. Điều đó chứng tỏ tình cảm của ông bà đối với nhau không còn, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của ông bà đã thật sự trầm trọng, nếu tiếp tục chung sống sẽ không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Toà chấp nhận yêu cầu của bà N, cho bà N được ly hôn với ông Q.

[3] Về con chung: bà N và ông Q có 01 con chung tên Tạ Gia H, (giới tính: Nam), sinh ngày 20/5/2022. Bà N và ông Q đều có yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Tòa xét thấy: trong thời gian sống ly thân, bà N là người trực tiếp nuôi con và cháu H hiện dưới 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc của người mẹ. Ông Q cho rằng bà N chăm sóc con không tốt và cháu phát triển không bình thường, không nói chuyện được nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ để minh như giấy khám sức khỏe, kết luận giám định...nên không có căn cứ để chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu H cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nom con chung cho ông Q, không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: không có yêu cầu nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

2

[6] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo mức không có giá ngạch theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông Tạ Trung Q.
  2. Về con chung: giao cháu Tạ Gia H, sinh ngày 20/5/2022 cho bà Nguyễn Thị Hồng N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Tạ Trung Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  3. Về án phí: buộc bà Nguyễn Thị Hồng N chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai thu số 0008582 ngày 11/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy thành án phí.
  4. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Vị Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Vị Thủy;
  • - UBND xã Phước Vinh, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hoàng Em

3

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 91/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger