|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 91/2024/HS-ST Ngày: 17/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bế Thị Hương (Nguyên Bí thư đoàn phường Duyệt Trung, thành phố Cao Bằng)
2. Bà Nguyễn Bích Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Thông - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/HSST ngày 16 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vy Quốc H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 17/4/2006 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm C, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12 phổ thông; Con ông: Vy Quốc B, sinh năm 1979; Con bà: Lục Thị T, sinh năm 1984; cùng trú tại: xóm C, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Anh chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 02/10/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vy Quốc H: bà Lục Thị T – sinh năm 1984 (Là mẹ đẻ của bị cáo)
Địa chỉ: xóm C, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Hoàng Đức T1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 31/10/2006 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm N, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12 phổ thông; Con ông: Hoàng Văn T2, sinh năm 1983; Con bà: Nông Thị S, sinh năm 1987; cùng trú tại: xóm N, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Anh chị em ruột: Bị cáo là con cả trong gia đình có 02 anh em; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 02/10/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hoàng Đức T1: bà Nông Thị S - sinh năm 1987 (Là mẹ đẻ của bị cáo)
Địa chỉ: xóm N, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
1. La Thị Hải Y, sinh năm 1993, trú tại: tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
2. Phùng Thị Minh H1, sinh năm 1988, trú tại: tổ E, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lục Văn N, sinh năm 1996, trú tại: Xóm C, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
Người làm chứng:
1. Triệu Đức L, sinh ngày: 09/7/2006, trú tại: Tổ D, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt không lý do tại phiên tòa.
Người đại diện: Nông Thị T3, sinh năm 1975, trú tại: Tổ D, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt không lý do tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn T4, sinh ngày: 03/12/2006, trú tại: Tổ C, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt không lý do tại phiên tòa.
Người đại diện: Triệu Thị H2, sinh năm 1981, trú tại: Tổ C, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.Vắng mặt không lý do tại phiên tòa.
3. Lục Quang H3, sinh ngày: 06/3/2004, trú tại: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt không lý do tại phiên tòa.
4. Nông Trọng T5, sinh ngày: 04/02/1996, trú tại: Tổ C, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt không lý do tại phiên tòa
5. Lý Thị Thu H4, sinh ngày: 08/6/1990, trú tại: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt không lý do tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Thu T6 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C thuộc Sở tư pháp tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.
Đại diện Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng: Ông Hoàng Hồng M – chức vụ: Phó Chủ tịch. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/5/2023, Phòng an ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh C nhận được đơn trình báo của La Thị Hải Y (Sinh ngày: 09/5/1993; Trú tại: tổ G, phường H, thành phố C) với nội dung: Khoảng 0 giờ 15 phút ngày 22/5/2023, có một người đàn ông tên H cùng với nhóm bạn đến quán Bar R thuộc tổ A, phường S, thành phố C của Y để uống bia, nghe nhạc. Khi thanh toán tiền với nhân viên thu ngân, Hanh chuyển khoản số tiền 820.000₫ (tám trăm hai mươi nghìn đồng) đến tài khoản của Y, sau đó tiếp tục chuyển khoản số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) để đổi lấy tiền mặt. Đến chiều cùng ngày, Y vẫn chưa nhận được tiền chuyển khoản, do nghi ngờ H chiếm đoạt tiền nên Y có đơn trình báo đề nghị cơ quan Công an giải quyết.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng đầu tháng 5/2023, Vy Quốc H (Sinh ngày: 17/4/2006; Trú tại: xóm C, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng) trao đổi với một người đàn ông không quen biết trên mạng xã hội Facebook về việc thuê ứng dụng “VCB D” giả (D là ứng dụng Ngân hàng điện tử của Ngân hàng thương mại cổ phần N1bank) với mục đích làm giả hóa đơn khi cần thanh toán tiền. Hanh và người này thỏa thuận phí thuê ứng dụng trên là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) một tháng. Đến ngày 21/5/2023, H đề nghị người này cung cấp mật khẩu để sử dụng trước và sẽ trả tiền sau thì được người này đồng ý. Sau đó, H nói với Hoàng Đức T1 (Sinh ngày: 31/10/2006; Trú tại: xóm N, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng) về việc sẽ cài đặt và sử dụng ứng dụng trên. Khoảng 21 giờ ngày 21/5/2023, H và T1 đến chơi game tại quán N2 thuộc tổ A, phường T, thành phố C. Tại đây, H và T1 trao đổi, thống nhất sẽ cùng nhau trả tiền thuê ứng dụng “VCB D” giả, đồng thời sử dụng ứng dụng này tạo hóa đơn chuyển tiền giả khi thanh toán tại quán Bar R và đổi thêm tiền mặt để chia nhau sử dụng. Sau đó, cả hai rủ Triệu Đức L (Sinh ngày:09/7/2006; Trú tại: tổ D, phường D, thành phố C) và Nguyễn Văn T4 (Sinh ngày:03/12/2006; Trú tại: tổ C, phường D, thành phố C) khi đó cũng đang chơi game tại quán N2 cùng đến quán Bar R thì L và T4 đồng ý. Khoảng 22 giờ cùng ngày, H, T1, L và T4 đến quán Bar R để nghe nhạc và uống bia. Đến khoảng 00 giờ ngày 22/5/2023, H đề nghị nhân viên của quán là Lục Quang H3 (Sinh ngày: 06/3/2004; Trú tại: tổ A, phường T, thành phố C) kiểm đồ và tính tiền. Khi H3 thông báo số tiền cần thanh toán là 820.000đ (tám trăm hai mươi nghìn đồng), H nói sẽ thanh toán bằng hình thức chuyển khoản. Sau đó H sử dụng ứng dụng “VCB D” giả thực hiện thao tác tạo thông báo hình ảnh chuyển khoản thành công số tiền 820.000đ (tám trăm hai mươi nghìn đồng) đến tài khoản ngân hàng của chủ quán La Thị Hải Y và cho H3 xem hình ảnh trên điện thoại di động để H3 chụp ảnh lại. Tiếp đó, H đề nghị chuyển thêm tiền để đổi lấy tiền mặt thì H3 đồng ý. Hanh tiếp tục tạo hình ảnh chuyển khoản số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) bằng ứng dụng “VCB D” giả và đưa cho H3 chụp ảnh lại rồi H3 đã lấy số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) với nhân viên thu ngân là Nông Trọng T5 (Sinh ngày: 04/02/1996; Trú tại: tổ C, phường H, thành phố C) đưa cho H. Sau khi H nhận tiền, cả nhóm tiếp tục đi đến quán Bar R (Địa chỉ: tổ A, phường S, thành phố C) để uống bia.
Đến khoảng 01 giờ ngày 22/5/2023, cùng với phương thức như trên, H ra quầy thu ngân của quán FEEL gặp nhân viên của quán là Lý Thị Thu H4 (Sinh ngày: 08/6/1990; Trú tại: xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng) đề nghị thanh toán chuyển khoản hóa đơn số tiền 765.000 (bẩy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng), đổi 1.020.000₫ (một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) tiền mặt và trả nợ cho chủ quán Phùng Thị Minh H1 (Sinh ngày: 26/9/1988; Trú tại: tô E, phường H, thành phố C) số tiền 415.000đ (bốn trăm mười lăm nghìn đồng). H4 đồng ý. Sau đó H đã sử dụng ứng dụng “VCB D” giả tạo hình ảnh chuyển khoản thành công đến tài khoản ngân hàng của H1 với tổng số tiền 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng) rồi đưa cho H4 xem hình ảnh trên điện thoại di động để Hường chụp ảnh lại và nhận số tiền mặt 1.020.000đ (một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) với H4. Sau khi ra khỏi quán FEEL, H chia cho T1 số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), số tiền còn lại H đã sử dụng để tiêu xài cá nhân và đánh bạc trực tuyến trên mạng Internet.
Qua kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE thu giữ của Vy Quốc H và các tài tiệu chứng cứ khác đã xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 15/5/2023 đến ngày 22/5/2023, Hoàng Đức T1 đánh bạc trực tuyến trên ứng dụng "SunPazuru-Doom Ball Game” cài đặt trên điện thoại di động của H và đăng nhập trên máy vi tính để đánh bạc trực tuyến trên trang web https://web.sun11.win/ với 02 tài khoản là “hoangducthuan”, mật khẩu: “112233”, tên hiển thị “thuanbu2mm” và tài khoản “hoangducthuan11”, mật khẩu: “121212”, tên hiển thị “thuanhanhlong” (đây là tài khoản đăng nhập trong ứng dụng SunPazuru-Doom Ball Game trên điện thoại của H). Cách thức tham gia đánh bạc trên trang web https://web.sun11.win/ như sau: Khi đăng nhập vào trang web, trên giao diện sẽ hiển thị các trò chơi như: Tài xỉu, MiniPoker, Sicbo T, Xóc đĩa T, Lô đề,...với hình thức đặt cược và trả thưởng khác nhau, tiền sử dụng khi tham gia đánh bạc quy ước là “$”, tỉ lệ quy đổi giữa tiền ảo “$” và tiền Việt Nam đồng là 1:1 (Ví dụ: nạp 100.000 đồng thì tài khoản đánh bạc trên trang web sẽ có 100.000 “$”). Khi thắng cược được “$”, người chơi quy đổi tiền ảo ra tiền Việt Nam đồng bằng cách vào mục “Rút tiền” và tạo phiếu rút tiền (Ví dụ: rút 100.000 “$” về tài khoản ngân hàng sẽ có 100.000 đồng).
Kết quả đối chiếu giữa lịch sử chơi trên trang web https://web.sun11.win với lịch sử giao dịch của tài khoản ngân hàng mang tên Hoàng Đức T1 tại ngân hàng M1 xác định được T1 có 03 lần đánh bạc với số tiền từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) trở lên, trong đó: ngày 16/5/2023 đánh bạc với số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng), ngày 17/5/2023 đánh bạc với số tiền 6.200.000₫ (sáu tiệu hai trăm nghìn đồng) và ngày 20/5/2023 đánh bạc với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng); Đối với Vy Quốc H cũng tham gia đánh bạc trực tuyến (trên trang web https://game.789p.club) nhưng không có lần đánh bạc nào có số tiền từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) trở lên.
Quá trình xác minh tính hợp pháp của trang web https://web.sun11.win/ và https://game.789p.club xác định: 02 trang web trên có địa chỉ đặt máy chủ tại Hoa Kỳ và chưa thực hiện thủ tục thông báo với Bộ T9 và Truyền thông theo quy định của pháp luật.
Hành vi của Vy Quốc H và Hoàng Đức T1 đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố. Tại bản Cáo trạng số: 77/CT-VKSTP ngày 12/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Vy Quốc H về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Hoàng Đức T1 về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và Tội đánh bạc quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Vy Quốc H và Hoàng Đức T1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Đối với 01 (một) chiếc điện thoại IPHONE bị thu giữ bị cáo H khai nhận đây là điện thoại do bị cáo mượn của ông Lục Văn N, việc bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội ông N không biết.
Các bị hại La Thị Hải Y và Phùng Thị Minh H1 có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến xác nhận đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lục Văn N có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu được trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone do Vy Quốc H mượn để sử dụng.
Đại diện hợp pháp của các bị cáo và đại diện cơ quan, tổ chức nơi bị cáo sinh hoạt có ý kiến: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, tiếp tục học tập trở thành công dân tốt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Vy Quốc H, tuyên bố bị cáo Vy Quốc H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo từ 07 đến 10 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Hoàng Đức T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo từ 06 – 09 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Hoàng Đức T1 phạm tội “Đánh bạc” xử phạt bị cáo từ 24 đến 27 tháng tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo T1 phải chấp hành tổng hợp hình phạt của hai tội.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại La Thị Hải Y, Phùng Thị Minh H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.
Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone cho ông Lục Văn N.
Buộc bị cáo Hoàng Đức T1 phải nộp lại số tiền hưởng lợi bất chính từ hành vi phạm tội với số tiền là 16.200.000đ (Mười sáu triệu hai trăm nghìn đồng).
Về án phí: Miễn án phí cho các bị cáo Vy Quốc H và Hoàng Đức T1 do các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn.
Tại phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.
Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nông Thị Thu T6 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C trình bày: Nhất trí với quan điểm truy tố cũng như luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo.
Đối với bị cáo H: Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn, có ông nội tham gia kháng chiến, có công trong việc bảo vệ tổ quốc và được hưởng trợ cấp 01 lần theo Quyết định số 62 của Thủ tướng Chính phủ nên cần xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo T1: Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn, có ông, bà nội tham gia kháng chiến, có công trong việc bảo vệ tổ quốc và được hưởng trợ cấp 01 lần theo Quyết định số 62 của Thủ tướng Chính phủ nên xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo H, T1 khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, nhận thức còn hạn chế, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Cần áp dụng Điều 91, khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Đề nghị cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, đối với bị cáo H là 07 tháng tù. Đối với bị cáo T1 là 06 tháng tù đối với T7 lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 24 tháng tù đối với T7 đánh bạc. Áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho các bị cáo được hưởng về án treo, để các bị cáo được tiếp tục học tập, rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt. Đối với hành vi phạm tội của bị cáo H là mang tính giản đơn, không phải phạm tội có tổ chức, không phải người chủ mưu, cầm đầu nên vẫn đủ điều kiện cho hưởng án treo. Bị cáo T1 phạm tội lần đầu vẫn đủ điều kiện cho hưởng án treo.
Các bị cáo thuộc hộ nghèo, dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn nên được miễn án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Ý kiến tranh luận của Kiểm sát viên: Không nhất trí áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i (phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng) do bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần. Đồng thời, bị cáo H là người chủ mưu khởi xướng và trực tiếp sử dụng điện thoại di động thực hiện hành vi phạm tội nên Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên hình phạt. Đối với bị cáo T1 do không đảm bảo điều kiện cho hưởng án treo nên vẫn giữ nguyên mức đề nghị hình phạt.
Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung đơn trình báo; lời khai của các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 21 giờ ngày 21/5/2023, Vy Quốc H và Hoàng Đức T1 trao đổi và thống nhất sẽ cùng nhau trả tiền thuê ứng dụng “VCB D” giả nhằm mục đích chiếm đoạt tiền khi thanh toán tại quán Bar R (Địa chỉ: tổ A, phường S, thành phố C). Đến khoảng 00 giờ ngày 22/5/2023, H sử dụng ứng dụng trên tạo thông báo hình ảnh chuyển khoản giả được tổng số tiền 4.820.000đ (bốn triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng). Đến khoảng 01 giờ ngày 22/5/2023 tại quán Bar R, cùng với phương thức như trên, H đã chiếm đoạt được của chủ quán Phùng Thị Minh H5 tổng số tiền 2.200.000₫ (hai triệu hai trăm nghìn đồng). Sau khi chiếm đoạt được tiền của Y và H1, H đã chia cho T1 số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), số tiền còn lại H đã sử dụng để tiêu xài cá nhân và đánh bạc trực tuyến trên mạng Internet.
Các bị cáo Vy Quốc H và Hoàng Đức T1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo lợi dụng sơ hở của các chủ sở hữu đã dùng thủ đoạn gian dối bằng hình thức thuê ứng dụng “VCB D” giả khi thanh toán để chiếm đoạt tiền để tiêu xài cá nhân. Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản 02 (hai) lần và mỗi lần đều có giá trị trên 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Như vậy, hành vi của các bị cáo Vy Quốc H và Hoàng Văn T8 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong khoảng thời gian từ ngày 15/5/2023 đến ngày 22/5/2023, Hoàng Đức T1 đã sử dụng điện thoại di động và máy vi tính có kết nối mạng internet để tham gia đánh bạc trực tuyến trái phép trên trang web https://web.sun11.win. Trong đó: ngày 16/5/2023 đánh bạc với số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng), ngày 17/5/2023 đánh bạc với số tiền 6.200.000₫ (sáu triệu hai trăm nghìn đồng) và ngày 20/5/2023 đánh bạc với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng).
Hành vi của bị cáo T1 đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Hoàng Văn T8 thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức sử dụng mạng internet, phương tiện điện tử để đánh bạc trực tuyến trái phép nhằm mục đích hưởng lợi bất chính. Trong đó có 03 (ba) ngày đánh bạc số tiền trên 5.000.000₫ (năm triệu đồng). Do đó, hành vi của bị cáo Hoàng Văn T8 đủ yếu tố cấu thành Tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò đồng phạm:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trong khoảng thời gian ngắn các bị cáo thực hiện liên tục 02 lần hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 02 (hai) chủ sở hữu khác nhau. Mặc dù tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được không lớn với số tiền là 7.020.000 đồng (bảy triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) nhưng hành vi của các bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, dùng công nghệ có thủ đoạn tinh vi nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ gây ra hậu quả rất nghiêm trọng. Do đó, cần xử lý nghiêm khắc hành vi của các bị cáo để đảm bảo tính răn đe. Trong vụ án này, bị cáo H là người chủ mưu, khởi xướng và trực tiếp sử dụng điện thoại di động để thực hiện hành vi phạm tội và bị cáo T8 là người giúp sức tích cực. Các bị cáo thực hiện hành vi tự phát, không có sự bàn bạc, phân công vai trò, công việc cụ thể, do đó đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không phải là phạm tội có tổ chức. Sau khi thực hiện hành vi bị cáo H được hưởng số tiền 5.520.000đ và bị cáo T8 được hưởng số tiền 1.500.000đ. Do đó, bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo T8.
[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vy Quốc H thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho các bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo thực hiện 02 (hai) lần chiếm đoạt tài sản từ 2.000.000đ (Hai triệu đồng) trở lên nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Hoàng Đức T1: Đối với hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và đã bồi thường số tiền chiếm đoạt cho các bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo thực hiện 02 (hai) lần chiếm đoạt tài sản từ 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) trở lên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi Đánh bạc: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 có 03 (ba) lần đánh bạc với số tiền từ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) trở lên nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân của bị cáo; tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên khi xem xét lượng hình phạt căn cứ quy định tại các Điều 91, Điều 101 Bộ Luật Hình sự, đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và đảm bảo mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo Vy Quốc H là người khởi xướng, chủ mưu và trực tiếp thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, được hưởng số tiền chiếm đoạt nhiều hơn bị cáo T1. Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị cáo còn thực hiện hành vi đánh bạc nhưng số tiền đánh bạc chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo đang tuổi đi học nhưng tự ý bỏ học, ham chơi đua đòi, thực hiện hành vi mang tính chất tinh vi nhằm thu lợi bất chính. Điều này cho thấy không có ý thức tu dưỡng rèn luyện bản thân nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe cải tạo giáo dục.
Bị cáo T1 được bị cáo H rủ rê thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng cũng tham gia vai trò giúp sức tích cực, góp tiền để mua phần mềm chuyển tiền và được hưởng số tiền chiếm đoạt là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Ngoài ra trong thời gian ngắn, bị cáo còn thực hiện nhiều hành vi phạm tội và phạm tội nhiều lần, trong đó có hành vi đánh bạc thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 02 hành vi phạm tội và cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì ngoài hình phạt chính, bị cáo T1 còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nhưng xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại La Thị Hải Y và Phùng Thị Minh H1 xác nhận đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.
[7]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE. Xét thấy đây là tài sản của ông Lục Văn N cho H mượn nhưng không biết H dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chủ sở hữu. Do đó, cần trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE cho ông Lục Văn N.
Đối với số tiền là 16.200.000đ (Mười sáu triệu hai trăm nghìn đồng). Xét thấy, đây là số tiền hưởng lợi bất chính mà bị cáo Hoàng Đức T1 có được từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo phải nộp lại để sung nộp ngân sách nhà nước.
[8]. Về những vấn đề khác:
Đối với Vy Quốc H chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, số tiền đánh bạc chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do vậy, ngày 18/3/2024 Công an thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Đánh bạc là đúng quy định pháp luật.
Đối với Triệu Đức L và Nguyễn Văn T4, quá trình điều tra xác định L và T4 không biết Vy Quốc H và Hoàng Đức T1 sử dụng ứng dụng “VCB D” giải để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý hành vi của L và T4 là đúng quy định pháp luật.
[9]. Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa về tội danh, hình phạt là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đối với ý kiến của người bào chữa về việc đề nghị cho bị cáo Vy Quốc H được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i (phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng) khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị cho các bị cáo H, T1 hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do có ông bà nội tham gia kháng chiến, được hưởng trợ cấp 01 lần. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo H chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, không đủ điều kiện được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, các bị cáo cung cấp bản phô tô tài liệu có ông, bà nội được hưởng chế độ trợ cấp 01 lần đối với đối tượng tham gia kháng chiến, có công trong việc bảo vệ tổ quốc theo Quyết định số 62 của Thủ tướng Chính phủ. Xét thấy, không đủ điều kiện được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử không áp dụng. Đồng thời, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo không đảm bảo cho các bị cáo được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của người bào chữa đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo. Đối với các ý kiến còn lại phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10]. Về án phí: Các bị cáo thuộc hộ nghèo, là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Tuyên bố bị cáo Vy Quốc H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Căn cứ khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Vy Quốc H 09 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Đức T1 phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Căn cứ: khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Đức T1 06 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Đức T1 phạm tội "Đánh bạc”.
Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Đức T1 24 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, buộc bị cáo Hoàng Đức T1 phải chịu tổng hợp hình phạt của 02 (hai) tội là 30 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại La Thị Hải Y và Phùng Thị Minh H1 xác nhận đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra vấn đề xem xét.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:
Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lục Văn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, SỐ EMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 355769079860731, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.
Xác nhận vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 104 ngày 02/5/2024.
Buộc bị cáo Hoàng Đức T1 phải nộp lại số tiền hưởng lợi bất chính là 16.200.000đ (Mười sáu triệu hai trăm nghìn đồng).
-
Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Các bị cáo Vy Quốc H và Hoàng Đức T1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm do thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn.
-
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại La Thị Hải Y và Phùng Thị Minh H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lục Văn N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Hanh |
Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đánh bạc
- Số bản án: 91/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vy Quốc H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản Hoàng Đức Th phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đánh bạc
