|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 91/2024/HSST Ngày: 17/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: | Bà Đỗ Thị Vân. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Dương Văn Xuyên. |
| Ông Nguyễn Văn Vĩ. | |
| Thư ký phiên toà: | Ông Tô Ngọc Lâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên. |
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 17/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thăng L. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 19/3/1995 tại Hưng Yên. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ và tên cha: Không xác định. Họ và tên mẹ: Lê Thùy B, sinh năm 1966. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Tạm giữ từ ngày 02/02/2024 đến ngày 05/02/2024. Tạm giam từ ngày 05/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Số giam: 1543/B8. D, chỉ bản số 118 ngày 05/02/2024 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Bị hại:
- Bà Bùi Thị T, sinh năm 1986. Trú tại: Thôn A, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1978. Trú tại: Thôn A, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
(Bà T, bà T1 đều có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thăng L, sinh ngày 19/03/1995, trú tại thôn T, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên không có việc làm ổn định. Để có tiền sinh hoạt, chi tiêu cá nhân, L nảy sinh ý định lên mạng xã hội làm quen với phụ nữ để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khoảng tháng 11/2023, L làm quen với bà Bùi Thị T, sinh năm 1986, trú tại thôn A, xã T, huyện S, Hà Nội qua mạng xã hội Facebook. L sử dụng tài khoản facebook “Minh H” để liên hệ với tài khoản facebook “Thuy Bui” của bà T. L nói chuyện qua Messenger với bà T hằng ngày và đã đến nhà bà T chơi, ăn cơm 02 lần (trong đó L ngủ lại nhà bà T 01 lần). Quá trình bà T và L nói chuyện với nhau, L giới thiệu L làm phó phòng của tập đoàn H1, lương 30.000.000 đồng/tháng, L có khả năng mua được máy lọc nước, điều hòa của tập đoàn được chiết khấu cao (30%) và đổi tiền lẻ không mất phí cho bà T. Ngoài ra, L còn nói với bà T cuối năm tập đoàn có chương trình bốc thăm trúng thưởng 15.500.000 đồng và L có thể phím cho đồng nghiệp để bà T trúng thưởng số tiền trên. Do tin tưởng, bà T đồng ý nhờ L thực hiện các công việc nêu trên. L yêu cầu bà T phải chuyển khoản trước cho L. Bà T chuyển tiền từ tài khoản 100006939455 tại Ngân hàng V của bà T vào tài khoản 1014258445 tại Ngân hàng V1 (VCB) của L, cụ thể:
- + Ngày 05/01/2024, bà T chuyển cho L số tiền 5.000.000 đồng để mua máy lọc nước.
- + Ngày 14/01/2024, bà T chuyển cho L số tiền 7.000.000 đồng để mua điều hòa.
- + Ngày 30/01/2024, L gọi điện cho bà T và nói đã bốc thăm trúng thưởng được 15.500.000 đồng và bảo bà T phải chuyển trước 5.500.000 đồng để lấy số tiền trúng thưởng trên. Ngoài ra, bà T nhờ L đổi 7.000.000 đồng tiền lẻ để mừng tuổi nên L yêu cầu bà T chuyển khoản số tiền 12.500.000 đồng (bao gồm tiền để đổi thưởng và tiền để đổi tiền lẻ). Do trong tài khoản của bà T chỉ có 12.300.000 đồng nên bà T chuyển khoản từ tài khoản V của bà T sang tài khoản VCB của L là 12.300.000 đồng, L bảo cho bà T nợ 200.000 đồng. Chiều ngày 30/01/2024, bà T tiếp tục nhờ L đổi thêm 10.000.000 đồng tiền lẻ để mừng tuổi, L đồng ý. Bà T chuyển khoản 10.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V2 của L. Tổng số tiền bà T đã chuyển cho L là 34.300.000 đồng.
Tối ngày 30/01/2024, L hứa ngày 31/01/2024 L sẽ mang tiền lẻ đến và lắp đặt máy lọc nước, điều hòa cho bà T. Tuy nhiên, đến cuối ngày L không mang máy lọc nước, điều hòa, tiền lẻ cho bà T, đồng thời L chặn facebook, Z và số điện thoại của bà T. Sau đó bà T có nói chuyện với bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1978, trú tại thôn A, xã T, huyện S, Hà Nội về việc bị L lừa tổng số tiền 34.3000.000 đồng. Bà T1 nói cũng bị L lừa số tiền 1.500.000 đồng gồm 1.000.000 đồng bà T1 nhờ L đổi tiền lẻ mừng tuổi không mất phí ngày 25/01/2024; ngày 30/01/2024 L nói với bà T1 là đang đi taxi xuống thôn A, xã T, huyện S, Hà Nội để đưa tiền cho bà T và bà T1, nhưng do L không đủ tiền để trả nên bảo bà T1 chuyển cho L 500.000 đồng để trả tiền taxi. Bà T1 đồng ý và chuyển khoản cho L 500.000 đồng từ tài khoản 105872147699 Ngân hàng V của bà T1 đến tài khoản 1014258445 Ngân hàng V1 của L, nhưng L không đến chỗ hẹn, không mang tiền lẻ, không trả tiền và chặn mọi liên lạc với bà T1.
Về trách nhiệm dân sự:
- + Bà Bùi Thị T yêu cầu Lê Thăng L trả lại số tiền 34.300.000 đồng. L chưa trả tiền cho bà T.
- + Bà Nguyễn Thị T1 yêu cầu Lê Thăng L trả lại số tiền 500.000 đồng cho L mượn để trả tiền taxi. Đối với số tiền 1.000.000 đồng bà Nguyễn Thị T1 nhờ L đổi tiền lẻ thì bà không yêu cầu L trả lại. Đến nay L chưa trả tiền cho bà T1.
Về vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động đã qua sử dụng, nhãn hiệu Iphone, loại máy 6s plus, màu vàng ghi của Lê Thăng L.
Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Thăng L thừa nhận đã nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối (lừa mua hàng và đổi tiền lẻ không mất phí) để chiếm đoạt số tiền 34.300.000 đồng của bà Bùi Thị T và chiếm đoạt số tiền 1.500.000 đồng của bà Nguyễn Thị T1.
Tại cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 16/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố Lê Thăng L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 47, 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Xử phạt Lê Thăng L với mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 02 năm 2024.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về phần bồi thường dân sự: Buộc Lê Thăng L phải bồi thường trả bà Bùi Thị T số tiền 34.300.000 đồng; bà Nguyễn Thị T1 số tiền 500.000 đồng
Về vật chứng: Tịch thu sung công 01 điên thoại di động thu của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
{1} Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
{2} Về nội dung vụ án : Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Do đó xác định được: Trong các ngày 05/01/2024; 14/01/2024; 30/01/2024, Lê Thăng L đã dùng thủ đoạn gian dối (lừa mua hàng và đổi tiền lẻ không mất phí) chiếm đoạt tổng số tiền 34.300.000 đồng của bà Bùi Thị T. Ngoài ra, ngày 25/01/2024 và ngày 30/01/2024, L cũng dùng thủ đoạn gian dối (đổi tiền lẻ không mất phí và tiền đi taxi) chiếm đoạt số tiền 1.500.000 đồng của bà Nguyễn Thị T1. Tổng số tiền L đã thực hiện việc lừa đảo, chiếm đoạt của bà T, bà T1 là 35.800.000 đồng.
Vì vậy, đủ cơ sở kết luận Lê Thăng L đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Bản cáo trạng số 51/VKS-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố Lê Thăng L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện S. Do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
{2.1} Về nhân thân và tình tiết tăng nặng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, do đó áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 bộ luật Hình sự.
{2.2} Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Do đó, áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, nhưng vẫn cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo.
{3} Về phần bồi thường dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường trả cho bà Bùi Thị T số tiền 34.300.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị T1 tự nguyện chỉ yêu cầu bị cáo trả số tiền 500.000 đồng nên ghi nhận.
{4} Về vật chứng: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động thu của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
{5} Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật sung vào ngân sách Nhà nước.
{6} Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thăng L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Thăng L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 02 năm 2024.
- Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
+ Buộc Lê Thăng L phải có nghĩa vụ trả cho bà Bùi Thị T số tiền 34.300.000 đồng (Ba mươi bốn triệu, ba trăm nghìn đồng).
+ Buộc Lê Thăng L phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
+ Tịch thu sung công 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, 6S plus, màu vàng, đã qua sử dụng, số Model: A168FCCID:BCG-E2944AIC:579C-E29 44A. (Tình trạng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/4/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
+ Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm và 1.740.000 đồng (Một triệu, bẩy trăm bốn mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải bồi thường theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai, sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Bùi thị T2 và bà Nguyễn Thị T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Vân |
Bản án số 91/2024/HSST ngày 17/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 91/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 18 tháng tù
