Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 91/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17-4-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi

ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Vân Thuý

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt;

Ông Phạm Mạnh Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hương – Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 372/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2024/QÐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Huy T, sinh năm 1993; nơi cư trú: Số G T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt có đơn xin vắng mặt;

- Bị đơn: Chị Bùi Thị Quỳnh N, sinh năm 1996; nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã V, huyện C, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú tại Hàn Quốc; vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai của nguyên đơn là anh Hoàng Huy T trình bày như sau:

Anh và chị Bùi Thị Quỳnh N kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, thành phố Hải Phòng ngày 09 tháng 12 năm 2015.

Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị hòa thuận, hạnh phúc và không có mâu thuẫn gì lớn trong nhiều năm đầu. Đến tháng 9 năm 2018, chị Bùi Thị Quỳnh N đi lao động tại Hàn Quốc từ đó đến nay không về Việt Nam. Kể từ cuối năm 2019, vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và không còn tìm được tiếng nói chung. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị xa cách về địa lý, không còn tin tưởng nhau về tình cảm, vợ chồng không có điều kiện quan tâm chăm sóc nhau. Anh Hoàng Huy T và chị Bùi Thị Quỳnh N chỉ liên lạc với nhau qua mạng xã hội và điện thoại và cũng chỉ trao đổi với nhau về vấn đề con cái, không hỏi han đến nhau về mọi mặt trong cuộc sống. Mặc dù mâu thuẫn của anh chị cũng được hai bên gia đình hòa giải khuyên bảo nhưng không có kết quả. Hiện nay, anh Hoàng Huy T cũng không biết địa chỉ chính xác của chị Bùi Thị Quỳnh N ở Hàn Quốc vì chỗ ở của chị Bùi Thị Quỳnh N không ổn định thường xuyên phải thay đổi chỗ ở. Nay anh Hoàng Huy T nhận thấy không còn tình cảm với chị Bùi Thị Quỳnh N, không thể tiếp tục sống chung với nhau nên anh Hoàng Huy T đề nghị Tòa án thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh được ly hôn với chị Bùi Thị Quỳnh N.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Hoàng Gia N1, sinh ngày 10 tháng 4 năm 2016. Hiện cháu đang sống cùng anh Hoàng Huy T và ông bà nội. Khi ly hôn anh Hoàng Huy T đề nghị giao con chung là cháu Hoàng Gia N1 cho anh Hoàng Huy T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hoàng Huy T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ: Anh Hoàng Huy T tự giải quyết với chị Bùi Thị Quỳnh N, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Bùi Thị Quỳnh N hiện đang ở Hàn Quốc. Nguyên đơn anh Hoàng Huy T chỉ cung cấp được địa chỉ cuối cùng ở Việt Nam của chị Bùi Thị Quỳnh N mà không cung cấp được địa chỉ của chị Bùi Thị Quỳnh N ở nước ngoài. Thông qua mẹ đẻ của chị Bùi Thị Quỳnh N là bà Lê Thị H trình bày: Bà và gia đình vẫn thường xuyên liên lạc với chị Bùi Thị Quỳnh N nhưng không cung cấp địa chỉ nơi cư trú của chị Bùi Thị Quỳnh N ở Hàn Quốc. Bà H đã thông báo cho chị Bùi Thị Quỳnh N biết việc anh Hoàng Huy T xin ly hôn với chị Bùi Thị Quỳnh N. Chị Bùi Thị Quỳnh N không có ý kiến gì. Do điều kiện công việc chị N không thể có mặt tại Việt Nam để giải quyết vụ án, chị N có đề nghị Tòa án gửi các văn bản, giấy tờ tài liệu cho bà nhận thay và giao nộp tài liệu cho Tòa án thay chị N. Các văn bản tố tụng của Tòa án, bà H đã nhận và có trách nhiệm giao và thông báo cho chị Bùi Thị Quỳnh N. Về thời gian kết hôn, tình trạng quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị N, nguyên nhân mâu thuẫn thống nhất lời trình bày của anh T. Tuy nhiên, gia đình không mong muốn hôn nhân giữa anh chị tan vỡ song mâu thuẫn cũng đã lâu mà không thể hàn gắn, đoàn tụ nên bà đề nghị giải quyết cho anh chị ly hôn để sớm ổn định cuộc sống. Về con chung: Do hiện nay chị N sinh sống, làm việc ở Hàn Quốc không biết khi nào mới trở về nên bà đề nghị giao con chung là cháu Hoàng Gia N1, sinh ngày 10 tháng 4 năm 2016 cho anh T nuôi dưỡng, về việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự giải quyết, gia đình khong có ý kiến gì. Về tài sản chung của anh chị bà không nắm rõ, đề nghị giải quyết theo quy đinh cảu pháp luật.

Tại phiên toà, anh Hoàng Huy T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với chị Bùi Thị Quỳnh N. Chị Bùi Thị Quỳnh N vắng mặt và không có ý kiến gì gửi cho Tòa án.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn anh Hoàng Huy T và bị đơn chị Bùi Thị Quỳnh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa, tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, anh Hoàng Huy T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Bùi Thị Quỳnh N vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử vắng mặt anh Hoàng Huy T và chị Bùi Thị Quỳnh N là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận cuộc sống vợ chồng của anh Hoàng Huy T và chị Bùi Thị Quỳnh N không có hạnh phúc, hiện mỗi người sống một nơi, không có khả năng đoàn tụ, vì vậy cần Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Hoàng Huy T. Về con chung: Xét đề nghị của anh Hoàng Huy T phù hợp nên đề nghị giao con chung là cháu Hoàng Gia N1, sinh ngày 10 tháng 4 năm 2016 cho anh Hoàng Huy T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Anh Hoàng Huy T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Anh Hoàng Huy T là nguyên đơn phải chịu án phí và đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Hoàng Huy T có đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con với chị Bùi Thị Quỳnh N. Anh Hoàng Huy T cư trú tại Hải Phòng. Chị Bùi Thị Quỳnh N hiện đang cư trú ở nước ngoài. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 2, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Anh Hoàng Huy T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xử vắng mặt. Chị Bùi Thị Quỳnh N hiện đang ở nước ngoài, anh Hoàng Huy T chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị Bùi Thị Quỳnh N. Bà Lê Thị H là mẹ đẻ của chị Bùi Thị Quỳnh N xác nhận chị Bùi Thị Quỳnh N vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, tuy nhiên Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bà Lê Thị H không cung cấp được địa chỉ, tin tức gì của chị Bùi Thị Quỳnh N cho Tòa án, nên coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho đại diện gia đình chị Bùi Thị Quỳnh N nhưng chị Bùi Thị Quỳnh N vẫn vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 2 điều 227, 228, 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng Huy T và chị Bùi Thị Quỳnh N là có căn cứ.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Huy T và chị Bùi Thị Quỳnh N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, thành phố Hải Phòng vào ngày 09 tháng 12 năm 2015. Theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[4] Xét thấy, quan hệ giữa anh Hoàng Huy T và chị Bùi Thị Quỳnh N hiện mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai, không còn yêu thương, chăm sóc nhau, không có khả năng đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa hai bên đã đến múc trẩm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Hoàng Huy T với chị Bùi Thị Quỳnh N.

[5] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Hoàng Gia N1, sinh ngày 10 tháng 4 năm 2016. Hiện cháu đang sống cùng anh Hoàng Huy T và ông bà nội. Anh Hoàng Huy T vẫn đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dậy con tốt. Chị Bùi Thị Quỳnh N hiện ở nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cháu Hoàng Gia N1 có nguyện vọng đề nghị được ở với bố nên để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con chung trong việc sinh hoạt, học tập, ổn định và phát triển toàn diện, Hội đồng xét xử căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung là cháu Hoàng Gia N1, sinh ngày 10 tháng 4 năm 2016 cho anh Hoàng Huy T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hoàng Huy T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

[7] Về tài sản chung và công nợ: Anh Hoàng Huy T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí sơ thẩm: Anh Hoàng Huy T là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hoàng Huy T

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hoàng Huy T được ly hôn với chị Bùi Thị Quỳnh N.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Gia N1, sinh ngày 10 tháng 4 năm 2016 cho anh Hoàng Huy T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hoàng Huy T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
  4. Về tài sản chung và công nợ: Anh Hoàng Huy T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Anh Hoàng Huy T là nguyên đơn phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0000341 ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Hoàng Huy T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

    Anh Hoàng Huy T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Chị Bùi Thị Quỳnh N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Minh Nguyệt Phạm Mạnh Hùng

Trần Thị Vân Thuý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 91/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Huy T - Bùi Thị Quỳnh N ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger