Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2023/HS-ST

Ngày 16/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI


-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Thành Trung

Các Hội thẩm nhân dân :

  • Bà Nguyễn Thị Vân, cán bộ hưu huyện Ứng Hòa;
  • Ông Đặng Viết Côi, cán bộ hưu huyện Ứng Hòa

Thư ký phiên toà : Bà Nguyễn Diệu Tuyết – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở toà án nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 90/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo :

  1. VŨ HÙNG T

    , sinh năm 2003; sinh quán và nơi cư trú : Thôn P, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo : Không; giới tính : Nam; tên gọi khác : Không; nghề nghiệp : Lao động tự do; trình độ học vấn : 7/12; họ và tên cha : Vũ Đức H (Đã chết); họ và tên mẹ : Vũ Thị L, sinh năm 1979; vợ, con : Chưa có; tiền án, tiền sự : Không; nhân thân: Ngày 30/8/2023, bị Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứ khởi tố bị can, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Vũ Hùng T hiện đang bị tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 13 ngày 30/8/2023 của Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứ, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02- Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa;
  2. HÀ MINH H1

    , sinh năm 2004; sinh quán, HKTT: Xóm Thuận, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiện nay : Thôn P, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; giới tính : Nam; tên gọi khác : Không; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Mường; tôn giáo : Không; trình độ học vấn : 8/12; nghề nghiệp : Lao động tự do; họ và tên cha : Hà Văn T1 (Đã chết); họ và tên mẹ : Triệu Thị D, sinh năm 1986; vợ, con : Chưa có ; tiền án, tiền sự : Không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2023 tại Trại tạm giam số 02- Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa;
  3. PHẠM T3

    , sinh năm 1991; sinh quán và nơi cư trú : Thôn C, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội; giới tính : Nam; tên gọi khác : Không; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo : Không; trình độ học vấn : 9/12; nghề nghiệp : Lao động tự do; họ và tên cha : Phạm Gia Đ (Đã chết); họ và tên mẹ : Nguyễn Thị M, sinh năm 1967; vợ : Nguyễn Thị Khánh N, sinh năm 1993 (Đã ly hôn); con có 02 con (Con lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự : Không; bị cáo bị bắt quả tang bị tạm giữ từ ngày 22/6/2023 đến ngày 28/6/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú và T2 hoãn xuất cảnh”; có mặt tại phiên tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 21/6/2023, tổ tuần tra kiểm soát C3D3- PK02E- Công an thành phố H làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên tuyến đường 429 thuộc địa phận thôn P, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội thì phát hiện 01 nam thanh niên điều khiển xe mô tô có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện tại hốc để đồ phía trước xe của thanh niên có 01 túi ni lông kích thước khoảng (14 x 8,5) cm, bên trong có 01 viên nén màu xanh hình con gấu và 09 túi ni lông, trong đó: 08 túi ni lông có kích thước (3x3) cm và 01 túi ni lông kích thước (8x5)cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng. Thanh niên trình này trình bày tên là Phạm T3- sinh năm 1991, HKTT: thôn C, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội. T3 khai nhận bên trong các túi trên là ma túy tổng hợp T3 cất giấu để sử dụng. Tổ công tác thu giữ tang vật và đưa T3 về trụ sở Công an xã V, huyện Ứ để làm việc và niêm phong vật chứng, lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang đối với T3.

Tại trụ sở Công an xã V, T3 khai nhận số ma túy trên được T3 mua của Hà Minh H1- sinh năm 2004 có HKTT tại xóm T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ hiện đang tạm trú tại thôn P, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội với giá 7.500.000 đồng. Đến 02 giờ 15 phút ngày 22/6/2023, Hà Minh H1 đến trụ sở Công an xã V đầu thú và khai nhận hành vi bán trái phép ma túy cho Phạm T3.

Sau khi xác minh ban đầu, Công an xã V bàn giao lại Phạm T3, Hà Minh H1 cùng tang vật đến Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứ để tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Khoảng 20 giờ ngày 21/6/2023, Phạm T3 gọi điện thoại cho Vũ Hùng T- sinh năm 2003 HKTT tại thôn P, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội hỏi mua 09 chỉ ke và 01 viên kẹo, T đồng ý bán ma túy cho T3 với giá 7.500.000 đồng. Tiếp đó, T gọi điện cho H1 nói “lúc nữa có anh T3 ở T đến lấy đồ, bạn đưa cho anh ấy”, rồi T lên mạng xã hội vào các trang mạng hỏi mua được 01 túi ma túy ke và 10 viên kẹo với giá 10.000.000 đồng của một người không quen biết và bảo người này cầm ma túy ra để tại cầu C thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội. Sau khi mua được ma túy, T gọi điện cho H1 đến cầu C lấy ma túy, đến nơi H1 đi ra giữa cầu thấy một chiếc khẩu trang được cuộn tròn để trên mặt cầu H1 nhặt lên mở ra bên trong có 10 viên kẹo và 01 túi ke nên cầm về phòng trọ chia túi ke ra 20 phần rồi cho vào 20 túi nilông cất giấu để bán. Lúc sau, T3 đến phòng trọ H1 đưa cho T3 09 túi ke và 01 viên kẹo, T3 trả trước cho H1 500.000 đồng rồi đi về. Khi T3 đi đến đầu phố B, xã V thì bị lực lượng Cảnh sát cơ động kiểm tra bắt giữ.

Ngày 22/6/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Minh H1 tại thôn P, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội, thu giữ tại áo khoác màu đen treo trên giá treo quần áo kê giữa phòng trọ của H1 01 túi ni lông kích thước (8x15)cm, bên trong gồm: 11 túi ni lông kích thước (3x3) cm bên trong chứa các tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông kích thước (8x5)cm bên trong chứa 09 viên nén màu xanh kích thước (01x0,5)cm.

- Vật chứng thu giữ của Phạm T3: 01 túi ni lông kích thước (14 x 8,5)cm bên trong gồm: 01 viên nén màu xanh hình con gấu; 08 túi ni lông có kích thước (3x3) cm và 01 túi ni lông kích thước (8x5)cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen đỏ BKS: 29X7- 41350 đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại Iphone màu vàng đã qua sử dụng.

- Vật chứng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Hà Minh H1: 01 túi ni lông kích thước (8x15)cm bên trong gồm: 11 túi ni lông kích thước (3x3)cm bên trong chứa các tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông kích thước (8x5)cm bên trong chứa 09 viên nén màu xanh kích thước (01x0,5)cm; 01 chiếc điện thoại Iphone màu vàng đã qua sử dụng.

Cùng ngày 22/6/2023, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứ đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 140 đối với số vật chứng thu giữ trên. Tại bản kết luận giám định số 4290 ngày 30/6/2023 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:

  • “- Tang vật thu giữ của Phạm Thanh gồm: 01 viên nén màu xanh khối lượng 0,336 gam là ma túy loại MDMA; Tinh thể màu trắng bên trong 08 túi ni lông kích thước (3x3) cm và 01 túi ni lông kích thước (8x5)cm tổng khối lượng 10,574 gam đều là ma túy loại ketamine.

  • - Tang vật thu giữ khi khám xét chỗ ở của Hà Minh H1 gồm có: Tinh thể màu trắng bên trong 11 túi ni lông có kích thước (3x3) cm tổng khối lượng 12,958 gam đều là ma túy loại ketamine; 09 viên nén màu xanh bên trong 01 túi ni lông kích thước (8x5)cm tổng khối lượng 3,117 gam là ma túy loại MDMA.”

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số : 91/CT - VKS ngày 25/10/2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà đã truy tố các bị cáo : Vũ Hùng T và Hà Minh H1 đều về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Phạm T3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà :

Các bị cáo đều nhận tội như nội dung đã nêu trên;

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố cả về tội danh, nội dung cũng như điều luật, khoản áp dụng như trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với các bị cáo và giải quyết vụ án như sau :

  • - Về tội danh, áp dụng điều luật và mức hình phạt :

    Tuyên bố các bị cáo : Vũ Hùng T và Hà Minh H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Phạm T3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
    • + Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự : Xử phạt Vũ Hùng T từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án; xử phạt Hà Minh H1 từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 22/6/2023).

    • + Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự : Xử phạt Phạm T3 từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thơi gian tạm giữ từ ngày 22/7/2023 đến ngày 28/6/2023.

  • - Về hình phạt bổ sung :

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng :

    Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự :
    • + Tịch thu tiêu hủy : 02 phong bì thư niêm phong, có chữ ký của giám định viên Phạm Trần N1, cán bộ điều tra Nguyễn Mạnh C, chữ ký cán bộ cảnh sát cơ động, chữ ký các bị can Hà Minh H1, Phạm T3, và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Ứ tại các mép niêm phong;

    • + Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước : 01 chiếc điện thoại Iphone màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Phạm T3; 01 chiếc điện thoại Iphone màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Hà Minh H1;

    • + Trả lại bị cáo Phạm T3 : 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen đỏ BKS: 29X7- 41350 đã qua sử dụng.

(Tình trạng, các đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan công an chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 15/11/2023).

- Về án phí và quyền kháng cáo : Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo Vũ Hùng T, Hà Minh H1, Phạm Thanh m bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

[1] Về tố tụng : Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên huyện Ứ, kiểm sát viên đều đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi của các bị cáo : Tại phiên Toà các bị cáo đều nhận tội như nội dung Cáo trạng mà Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã nêu. Xét thấy lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, lời khai của bị cáo này là chứng cứ buộc tội cho bị cáo khác, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ kết luận : Ngày 21/6/2023, tại thôn P, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội, Phạm T3 có hành vi tàng trữ 0,336 gam là ma túy loại MDMA, 10,574 gam ma túy loại ketamine, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Cảnh sát cơ động- Công an thành phố H kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra đã làm rõ số ma túy trên T3 mua của Vũ Hùng T, Hà Minh H1. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Minh H1 thu giữ 12,958 gam ma túy ketamine; 3,117 gam ma túy MDMA. Toàn bộ số ma túy bị thu giữ, T, H1 khai nhận mục đích để bán thu lời bất chính.

[3] Về tội danh :

  • - Hành vi cất giữ trái phép ma túy 0,336 gam MDMA, 10,574 gam ketamine, mục đích để sử dụng của bị cáo Phạm T3, sau khi đối chiếu với các quy định của pháp luật, cụ thể : Căn cứ khoản 2, Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy thì tỉ lệ % ma túy MDMA Phạm Thanh tàng trữ so với khối lượng ma túy MDMA tối thiểu quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự là 6,72%. Tỉ lệ % ma túy Ketamine Thanh tàng trữ so với khối lượng ma túy Ketamine tối thiểu quy định tại điểm l, khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự là 52,787%. (6,72 + 52,787 = 59,507%) thuộc trường hợp dưới 100%. Thì hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy” vi phạm vào điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

  • - Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời và thực tế đã bán một phần cho bị cáo Phạm T3 của Hà Minh H1 và Vũ Hùng T, thu giữ 12,958 gam ma túy ketamine; 3,117 gam ma túy MDMA, đối chiếu với các quy định của pháp luật, cụ thể : Căn cứ khoản 3, Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy thì tỉ lệ % ma túy MDMA H1 và T mua bán so với khối lượng ma túy MDMA tối thiểu quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 251 Bộ luật Hình sự là 11,51%. Tỉ lệ % ma túy Ketamine Thanh tàng trữ so với khối lượng ma túy Ketamine tối thiểu quy định tại điểm e, khoản 3, Điều 251 Bộ luật Hình sự là 23,532%. (11,51 + 23,532 = 35,042%) thuộc trường hợp dưới 100% thì hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vi phạm điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà đã truy tố các bị cáo trong bản Cáo trạng nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất : Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, thể hiện việc coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo; phù hợp với tích chất, mức độ của hành vi phạm tội của từng bị cáo và đảm bảo việc răn đe phòng ngừa tội phạm, đồng thời cũng để cho bị cáo nghiện ma túy có thời gian cai nghiện trong trại giam, sau khi mãn hạn tù trở thành người hữu ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo Hà Minh H1 sau khi bị triệu tập để điều tra biết không thể che giấu được đã đầu thú khai báo việc phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, khi quyết định hình phạt

[5] Hình phạt bổ sung : Các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Vũ HùngTuấn khai nhận mua ma túy thông qua mạng xã hội, T không nhớ truy cập vào trang mạng nào. Việc mua bán ma túy không có ai biết. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ xác minh làm rõ.

[7] Xét vai trò của các bị cáo thấy : Bị cáo Phạm Thanh tàng trữ ma túy để sử dụng nên phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập. Đối với các bị cáo Vũ Hùng T và Hà Minh H1 trước khi xẩy ra vụ việc các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công, phân nhiệm nên vụ án được xác định là đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành nên áp dụng mức hình phạt ngang nhau cũng là phù hợp.

[8] Về xử lý vật chứng : Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự :

  • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định gửi trả lại đựng trong 02 phong bì thư niêm phong, có chữ ký của giám định viên Phạm Trần N1, cán bộ điều tra Nguyễn Mạnh C, chữ ký cán bộ cảnh sát cơ động, chữ ký các bị can Hà Minh H1, Phạm T3, và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Ứ tại các mép niêm phong;

  • - Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước : 01 chiếc điện thoại Iphone màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Phạm T3; 01 chiếc điện thoại Iphone màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Hà Minh H1;

  • - Đối với chiếc xe mô tô thu giữ của bị cáo T3, qua tra cứu xe là vật dụng của bị cáo không nằm trong vật chứng của cụ án khác, xe không chuyên dùng vào việc phạm tội, do đó trả lại bị cáo T3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen đỏ BKS: 29X7- 41350 đã qua sử dụng.

[7] Về án phí, quyền kháng cáo : Theo quy định tại các Điều 135;136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

  1. Tuyên bố :

    • - Các bị cáo : Vũ Hùng T và Hà Minh H1 đều phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

    • - Bị cáo Phạm T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    1.1 Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51,Điều 58 của Bộ luật hình sự : Xử phạt Vũ Hùng T 07 (Bẩy) năm 06 (S) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án;

    1.2 Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự : Xử phạt Hà Minh H1 08 (Tám) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 22/6/2023);

    1.3 Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự : Xử phạt Phạm T3 15 (Mười lăm) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/6/2023 đến ngày 28/6/2023.

  2. Về xử lý vật chứng :

    Căn cứ khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự :
    • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định gửi trả lại đựng trong 02 phong bì thư niêm phong, có chữ ký của giám định viên Phạm Trần N1, cán bộ điều tra Nguyễn Mạnh C, chữ ký cán bộ cảnh sát cơ động, chữ ký các bị can Hà Minh H1, Phạm T3, và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Ứ tại các mép niêm phong;

    • - Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước : 01 chiếc điện thoại Iphone màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Phạm T3; 01 chiếc điện thoại Iphone màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Hà Minh H1;

    • - Trả lại bị cáo Phạm T3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen đỏ BKS: 29X7- 41350 đã qua sử dụng.

    (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan công an chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 15/11/2023).

  3. Về án phí :

    Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Buộc các bị cáo Vũ Hùng T, Hà Minh H1, Phạm Thanh m bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo :

    Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận :

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSND; Công an huyện Ứng Hòa;
  • - Chi cục T.H.ADS huyện Ứng Hoà;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu : Hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Nguyễn Thành Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI về hình sự

  • Số bản án: 91/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo : Vũ Hùng T và Hà Minh H1 đều phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger