1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 91/2024/HS-ST Ngày 13-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Mạnh Lưu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thúy Vinh; Bà Lê Thị Uyên Như
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Xuân Hồng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Hồ Thiên Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 23/8/2024 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 30/8/2024, đối với bị cáo:
Hồ Văn K, sinh năm 1999 tại huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Bru Vân Kiều; Tôn giáo: Không; Con ông Hồ Văn L, sinh năm 1977 và bà Hồ Thị C, sinh năm 1975; Vợ là Hồ Thị P, sinh năm 2001; Có 01 con, sinh năm 2023; Gia đình có 09 chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 08/01/2024, bị UBND tỉnh Q ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 26/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền 137.500.000 đồng về hành vi phá rừng trái pháp luật (trong một vụ vi phạm khác). Ngày 26/01/2024, UBND tỉnh Q ra Quyết định số 209/QĐ-MTP miễn toàn bộ tiền phạt vi phạm hành chính đối với Hồ Văn K;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn K: Ông Trần Đại N– Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; Có mặt
- Nguyên đơn dân sự: Cộng đồng dân cư thôn M và thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1975; Trưởng thôn Măng Sông, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị (Theo Biên bản họp thôn Măng Sông ngày 20/5/2024 và Biên bản họp thôn B ngày 24/5/2024). Có mặt.
- Người phiên dịch: Ông Hồ Quốc P1; Trú tại: K, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng cuối tháng 8/2023, do nhu cầu cần có thêm đất để canh tác nên Hồ Văn K nảy sinh ý định lên khu vực rừng tự nhiên thuộc xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị chặt phá, cưa hạ cây gỗ tự nhiên để lấy đất trồng lúa, sắn. Thực hiện ý định của mình, K chuẩn bị công cụ gồm 01 cây rựa và 01 cây rìu rồi một mình đi bộ đến khu vực rừng tự nhiên tại lô F, khoảnh C, T, rừng do UBND huyện H giao cho Cộng đồng dân cư thôn M và B, xã B, huyện H quản lý. Tại đây, Hồ Văn K dùng rựa phát lau lách để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chặt hạ cây gỗ tự nhiên. Sau đó, K tiếp tục dùng rìu chặt hạ các cây gỗ nhỏ có đường kính từ khoảng 10cm đến 30cm. Thời gian Hồ Văn K thực hiện việc chặt phá rừng diễn ra trong khoảng 10 đến 15 ngày, trong đó có 01 ngày (không nhớ rõ ngày nào) có một người đàn ông không quen biết đến chơi trong thôn (K nghe nói người này tên là M hay Mun gì đó, cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị), thấy người này có máy cưa cầm tay nên K đã nhờ người này cưa giúp ba lần, một lần cưa giúp tầm 20 đến 30 phút một số cây to trên khu vực rừng đang chặt phá. Sau khi nhờ cưa cây xong, K cho người này 01 chai rượu để cảm ơn, sau đó người này mang máy cưa và đi đâu thì K không biết.
Ngày 22/12/2023, lực lượng bảo vệ rừng của thôn M, xã B phát hiện khu vực rừng tự nhiên tại chân đồi C thuộc lô F, khoảnh 3, T bị chặt phá trái pháp luật nên báo cáo vụ việc đến UBND xã B, huyện H. Ngày 25/12/2023, UBND xã B tổ chức lực lượng phối hợp với cộng đồng thôn M mời đối tượng Hồ Văn K đến làm việc. Hồ Văn K thừa nhận mình là người đã thực hiện hành vi chặt phá, cưa hạ cây gỗ tại khu vực rừng tự nhiên nói trên.
Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực Lâm nghiệp số 01-2024/KL/GĐCN ngày 01/3/2024 của giám định viên Nguyễn Trinh T1 kết luận đối với khu vực rừng bị phá:
- - Vị trí: Lô 6, khoảnh 3, T thuộc xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị.
- - Diện tích: 5.202 m2 (tương đương 0,5202 ha).
- - Chủ quản lý: Cộng đồng dân cư thôn M và B, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị.
- - Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành: Rừng tự nhiên thứ sinh phục hồi.
- - Phân loại rừng theo mục đích sử dụng: Rừng sản xuất.
- - Phân loại rừng theo trữ lượng (trạng thái): Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt (trữ lượng bình quân/ha: 27,795 m3/ha).
- - Trữ lượng của diện tích rừng bị phá: 14,459 m3.
Kết luận định giá tài sản số 16/KL-ĐGTS ngày 09/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận:
Tại vị trí rừng bị phá: Thuộc lô 6, khoảnh 3, T xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Tổng diện tích khu vực rừng bị phá: 0,5202 ha; Chức năng rừng bị phá: Rừng sản xuất; Trạng thái rừng bị phá: Rừng gỗ tự nhiên đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt (trữ lượng bình quân: 27,795 m3/ha); Trữ lượng của diện tích rừng bị phá 14,459 m3/ha. Giá trị cây rừng bị phá được định giá: 15.127.850 đồng.
Cây rựa mà Hồ Văn K dùng để chặt phá rừng sau đó bị hư, rỉ sét nên bị cáo đã bán sắt vụn cho một người không rõ, còn cây rìu trong quá trình sử dụng bị cáo làm gãy và thất lạc, vì vậy Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Đối với số cây gỗ đã bị chặt, cưa hạ: Do vị trí khu vực rừng bị phá có địa hình phức tạp, độ dốc tương đối lớn, giao thông đi lại, tiếp cận hiện trưởng rất khó khăn nên cơ quan chức năng đã bàn giao cho Cộng đồng dân cư thôn M và B, xã B, huyện H quản lý, bảo vệ.
Bản cáo trạng số: 87/CT-VKSHH ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Hồ Văn K về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hồ Văn K phạm tội “Hủy hoại rừng”;
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Hồ Văn K từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585, 586, 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Hồ Văn K bồi thường cho C1 đồng thôn M và thôn B số tiền 15.127.850 đồng theo kết luận định giá tài sản nên cần chấp nhận. Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 3.000.000 đồng để bồi thường tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa. Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 12.127.850 đồng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn K: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Hồ Văn K khoảng 12 tháng tù và cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.
Bị cáo trình bày lời sau cùng: Bị cáo thiếu hiểu biết về pháp luật nên đã vi phạm pháp luật. Hiện gia đình bị cáo đang gặp khó khăn, bị cáo có người con đang bị bệnh nặng. Mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện làm việc kiếm tiền đễ chữa bệnh con con đang bị bệnh hiểm nghèo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2.] Xác định loại rừng bị chặt phá: Diện tích rừng tại Lô F, khoảnh 3, T là rừng tự nhiên được UBND huyện H, tỉnh Quảng Trị giao cho Cộng đồng thôn M và B, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị quản lý theo Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 20/02/2009 của UBND huyện H, tỉnh Quảng Trị là loại rừng phòng hộ. Tuy nhiên, sau khi giám định diện tích rừng bị chặt phá thì được UBND huyện H, tỉnh Quảng Trị điều chỉnh theo Quyết định số: 1974/QĐ-UBND ngày 26/4/2024 đã xác định đây là rừng sản xuất.
[3]. Về hành vi bị truy tố: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng thời gian từ cuối tháng 8/2023 đến tháng 9/2023 Hồ Văn K có hành vi dùng rựa, rìu và cưa máy cầm tay để chặp phá diện tích 5.202 m2 rừng sản xuất tại Lô F, khoảnh 3, T do Cộng đồng thôn M và thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị quản lý. Theo kết luận định giá của cơ quan chức năng, tổng số cây rừng bị chặt phá thiệt hại là 15.127.850 đồng. Hành vi của Hồ Văn K đã cấu thành tội “Huỷ hoại rừng”, với tình tiết định khung là “Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000m2 đến dưới 10.000m2 ”, quy định tại đểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4]. Xét tính chất, hành vi phạm tội tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã tự nguyện nộp trước số tiền để bồi thường thiệt hại, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo khó khăn, là lao động chính trong gia đình, có một người con đang mắc bệnh hiểm nghèo có xác nhận của chính quyền địa phương nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là xâm phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống con người nên cần xử lý nghiêm theo quy định. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên cần xem xét xử phạt bị cáo với mức án vừa phải và áp dụng khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo củng đủ giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo Hồ Văn K đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” nhưng bị xử phạt tù cho hưởng án treo. Nên cần áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự để huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại rừng bị chặt phá theo kết luận của Hội đồng định giá là 15.127.850 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường và đã tự nguyện nộp trước số tiền 3.000.000 đồng để bồi thường tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 12.127.850 đồng để nộp Ngân cách Nhà nước.
[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với số cây gỗ bị cưa hạ trong vụ án, do điều kiện giao thông đi lại khó khăn trong việc vận chuyển tang vật. Tiếp tục giao cho Cộng đồng thôn M và thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị bảo quản, quản lý theo Biên bản bàn giao số: 01/BB-BG ngày 16/01/2024 giữa Hạt kiểm lâm H và Cộng đồng thôn M, thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị
[7]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 606.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2,5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn K phạm tội “Hủy hoại rừng”.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí:
- Bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn K 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/9/2024).
Giao bị cáo Hồ Văn K cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp bị cáo Hồ Văn K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Buộc Hồ Văn K phải bồi thường cho Cộng đồng thôn M và Cộng đồng thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị số tiền 15.127.850 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước. Hồ Văn K đã tự nguyện nộp trước số tiền 3.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 12.127.850 đồng.
“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự”.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.
Giao cho Cộng đồng thôn M và thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị tiếp tục bảo quản, quản lý số cây rừng bị cưa hạ tại Lô F, khoảnh 3, tiểu khu NTK16 theo Biên bản bàn giao số: 01/BB-BG ngày 16/01/2024 giữa Hạt kiểm lâm H và Cộng đồng thôn M, thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Trị.
Buộc bị cáo Hồ Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 606.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Mạnh Lưu |
Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự sơ thẩm (tội hủy hoại rừng)
- Số bản án: 91/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Hủy hoại rừng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn Krăng phạm tội Huỷ hoại rừng
