|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12/7/2024.
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lý Thị Tư .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hoàng Bảy
- Bà Tăng Thị Bạch Vân
- Thư ký phiên toà: Bà Lý Hồng Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc, Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 345/TLST-HNGĐ ngày 23/10/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Quốc D, sinh năm 1990. Nơi ĐKTT: ấp P, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; (đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số 2. Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng - Theo quyết định số 80/2023/QĐ-TA ngày 07/02/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh- vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/12/2022 và đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 25/10/2023 thì nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày: Bà và ông Lê Quốc D kết hôn vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận kết hôn số 46 ngày 17/4/2014. Trong thời gian sống chung, ông, bà có một người con chung là cháu Lê Thị Minh T1, sinh ngày 18/7/2012.
Đến năm 2015, bà T và ông D phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, thiếu tôn trọng nhau. Bà T nhận thấy hai bên không còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng nên bà Thương yêu c được ly hôn với ông Lê Quốc D.
Về con chung, bà Lê Thị Thương yêu c1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thị Minh T1, sinh năm ngày 18/7/2012 không yêu cầu ông Lê Quốc D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Lê Quốc D trình bày tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 22/5/2024: Ông và bà Lê Thị T là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Quá trình chung sống thì ông, bà không có phát sinh mâu thuẫn nhưng từ năm 2015, bà T bỏ đi nơi khác, không còn sống chung ông cho đến nay. Ông đồng ý ly hôn với bà Lê Thị T nhưng không đồng ý giao con chung là cháu Lê Thị Minh T1 cho bà T nuôi dưỡng, sau khi cai nghiện xong ông sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1. Về tài sản chung và nợ chung thì ông không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của pháp luật, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự và quan hệ pháp luật đang tranh chấp là chính xác, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đúng thành phần. Về nội dung vụ án, đề nghị công nhận sự thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn, giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy tại phiên nguyên đơn là bà Lê Thị T, bị đơn là ông Lê Quốc D vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Lê Quốc D kết hôn vào năm 2014 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 46 ngày 17/4/2014 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp nên đảm bảo các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, hôn nhân của ông, bà là hợp pháp.
[3] Bà Lê Thị T cho rằng trong quá trình sống chung, bà và ông Lê Quốc D phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vả nhau, thiếu tôn trọng nhau, còn ông D cho rằng ông bà không có phát sinh mâu thuẫn, nhưng hai bên đều thừa nhận từ năm 2015 đến nay vợ chồng không còn sống chung với nhau. Xét thấy, để xây dựng hôn nhân hạnh phúc, vợ chồng phải có sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương lẫn nhau, tuy nhiên, bà T và ông D đã không còn sống chung với nhau một thời gian dài, không cùng vun đắp cho hạnh phúc gia đình và ông D cũng đồng ý ly với bà T. Do đó, hôn nhân giữa ông, bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị T với ông Lê Quốc D để mỗi người tạo lập cuộc sống mới, có cơ hội tìm được hạnh phúc mới.
[5] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị T và ông Lê Quốc D đều thống nhất xác định ông, bà có một người con chung là cháu Lê Thị Minh T1, sinh ngày sinh ngày 18/7/2012 và đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì hiện nay cháu T1 đang sống cung gia đình ông D và có nguyện vọng được sống chung với ông D. Tuy nhiên, ông D đang thực hiện việc cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện nên không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thị Minh T1. Xét thấy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu T1 thì việc giao cháu T1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trường hợp sau khi ông Lê Quốc D hoàn thành thời gian cai nghiện ma túy và xét thấy có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con thì có thể thỏa thuận với bà T hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ông Lê Quốc D không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Lê Thị T không yêu cầu.
[6] Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Lê Quốc D, không ai được quyền ngăn cản.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị T và ông Lê Quốc D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Bà Lê Thị T và ông Lê Quốc D mỗi người phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 75.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024 ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
[9] Như đã nhận định nêu trên, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024 ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị T và ông Lê Quốc D.
-
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Lê Thị Minh T1, sinh ngày 18/7/2012 cho bà Lê Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi cháu Lê Thị Minh T1 đủ 18 tuổi. Ông Lê Quốc D không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Lê Quốc D, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị T và ông Lê Quốc D không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
-
Về án phí:
Bà Lê Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 75.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015559 ngày 27/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị T đã nộp xong án phí sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí còn thừa là 225.000 đồng từ biên lai nêu trên.
Ông Lê Quốc D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 75.000 đồng.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Thị Tư |
Bản án số 91/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 91/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
