| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2023/HS-ST Ngày: 11-8-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Hoàng Thiên Phúc
- Bà Võ Thị Kim Nguyên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung K; sinh ngày: 22/01/1987 tại Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Doãn H và bà: Nguyễn Thị Minh N; tiền án: Ngày 11/4/2019, bị Toà án nhân dân huyện Vân Hồ xử phạt 04 năm tháng 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo Bản án số 26/2019/HSST; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/6/2013, bị Toà án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo Bản án số 289/2013/HSST. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Q.
(Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 28/01/2023, tại trước số D Đường T, Phường A, Quận A, Tổ tuần tra 363 Công an Quận 10 phát hiện bị cáo Nguyễn Trung K điều khiển xe môtô mang biển số 59T1-611.02 và Phạm Ngọc T điều khiển xe môtô mang biển số 59F2-292.25 có biểu hiện nghi vấn, nên mời về trụ sở Công an P, Quận A kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, thu giữ trong túi quần trước bên trái của bị cáo K 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, bị cáo K khai nhận là ma tuý. Công an P, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo K chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trưng cầu giám định đối với tinh thể và chất bột màu trắng chứa trong 02 gói nylon thu giữ của bị cáo Nguyễn Trung K, tại Kết luận giám định số 950/KL-KTHS ngày 06/02/2023 của Phòng K1 - Công an Thành phố H, kết luận:
“- Gói 1: Tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,2518 gam, loại Methamphetamine.
Gói 2: Bột màu trắng là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,2072 gam, loại Heroin."
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo Nguyễn Trung K khai nhận bản thân nghiện ma tuý. Nên vào lúc 19 giờ ngày 27/01/2023, bị cáo đã mua số ma tuý trên của một người đàn ông tên H1 (không rõ lai lịch) với giá 300.000 đồng, cất giữ trong người để sử dụng thì bị kiểm tra phát hiện, bắt giữ như trên. Phạm Ngọc T không biết việc bị cáo K cất giữ ma tuý trong người. Lời khai của bị cáo K phù hợp với lời khai của T.
Vật chứng vụ án:
- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma tuý, có khối lượng 0,2036 gam, loại Methamphetamine và 01 gói nylon chứa bột màu trắng là ma tuý, có khối lượng 0,1773 gam, loại Heroin (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, chờ xử lý.
- 01 xe môtô mang biển số 59T1-611.02, giám định xe có số khung, số máy không đổi. Xác minh, xe do ông Phan Văn N1 đứng tên đăng ký xe. Năm 2019, ông N1 bán xe cho ông Nguyễn Văn M. Ngày 28/01/2023, ông M cho bị cáo Nguyễn Trung K mượn xe đi công việc và sau đó bị cáo K bị bắt. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại xe cho ông M.
- 01 xe môtô mang biển số 59F2-292.25, giám định xe có số khung, số máy không đổi. Xác minh, xe do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên đăng ký xe. Ngày 30/12/2022, ông T1 bán xe cho Phạm Ngọc T có làm hợp đồng công chứng. Cơ quan điều tra đã trả xe cho T.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao 0964.856.620 là tài sản cá nhân của bị cáo K, không liên quan đến hành vi phạm tội. Theo yêu cầu của bị cáo, Cơ quan điều tra đã giao trả điện thoại cho mẹ ruột của bị cáo K là bà Nguyễn Thị Minh N, quản lý.
Tại Bản Cáo trạng số 57/CT-VKSQ10 ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Nguyễn Trung K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải), tình tiết tăng nặng tái phạm và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Nguyễn Trung K từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, phạt tiền bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và đề nghị xử lý vật chứng.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Trung K đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý ở thể rắn có khối lượng 0,2072 gam, loại Heroine và 0,2518 gam loại Methamphetamine để sử dụng. Do vậy, bị cáo Nguyễn Trung K bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc gia. Mặt khác bị cáo có quá trình nhân thân không tốt. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương. Ngoài ra áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một số tiền nộp ngân sách nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý chưa được xoá án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nghiêm trọng do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Đối với 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma tuý, có khối lượng 0,2036 gam, loại Methamphetamine và 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng là ma tuý, có khối lượng 0,1773 gam, loại Heroin (mẫu vật hoàn lại sau giám định). Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm i khoản 1, 5 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2023.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Trung K số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma tuý, có khối lượng 0,2036 gam, loại Methamphetamine và 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng là ma tuý, có khối lượng 0,1773 gam, loại Heroin (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
(Tình trạng vật chứng Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/7/2023 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).
Buộc bị cáo Nguyễn Trung K chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án;
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
Bản án số 81/2023/HS-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 81/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung Kiên
