Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/DS-ST

Ngày 11 - 07 - 2024

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Chí Nguyện
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Phi Hùng
  • Ông Trần Văn Thắng
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 119/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S;
  • Địa chỉ: số B, N, phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • Người đại diện theo pháp luật: Bà Thái Đức Thạch D – Tổng giám đốc.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh L - Chuyên viên. Theo giấy ủy quyền ngày 04/4/2024. (có mặt)
  • - Bị đơn: Ông Đỗ Bé N, sinh năm 1984; (vắng mặt)
  • Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:

Đại diện cho nguyên đơn, ông L trình bày: Vào ngày 02/11/2022, Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C - Phòng G cấp thẻ tín dụng theo đề nghị ngày 27/10/2022 của ông Đỗ Bé N với hạn mức sử dụng số tiền là 50.000.000đ, mục đích tiêu dùng, lãi suất 33,2%/năm, không tài sản đảm bảo, không có bảo lãnh của bên thứ ba.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông N đã thực hiện các giao dịch dư nợ và lãi với số tiền 39.879.288₫.

Đến ngày 25/01/2024 khoản vay của ông N đã bị nợ xấu tại Công ty T. Do đó, khoản nợ thẻ tín dụng của ông N cũng bị nợ xấu tại Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C - Phòng G.

Phía Ngân hàng đã liên hệ nhiều lần với ông N vẫn không thực hiện thanh toán nợ theo số dư nợ của thẻ tín dụng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông

2

N phải thanh toán nợ cho Ngân hàng tính đến ngày xét xử 11/7/2024 ông N còn nợ và phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 45.604.609₫ (Trong đó: nợ gốc 40.786.712đ, lãi 4.817.897đ) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày tiếp theo ngày xét xử cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn là ông Đỗ Bé N: Từ khi thụ lý vụ án cho đến ngày mở phiên tòa xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông N. Nhưng ông N vẫn vắng mặt không rõ lý do và không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án. Do đó, căn cứ vào hợp đồng thẻ tín dụng mà ông N đã ký với Ngân hàng và lời trình bày của Ngân hàng để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa các đương sự không nộp thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và bổ sung tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP S thuộc lĩnh vực tranh chấp về hợp đồng tín dụng; Ông Đỗ Bé N là bị đơn, có nơi cư trú tại ấp X, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đỗ Bé N, nhưng ông N vắng mặt không rõ lý do đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt ông N theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung của vụ án: Xét thấy, tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản (cấp thẻ tín dụng). Vào ngày 02/11/2022, Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C xét duyệt cấp thẻ tín dụng theo đề nghị ngày 27/10/2022 của ông Đỗ Bé N với hạn mức sử dụng số tiền là 50.000.000đ, mục đích tiêu dùng, lãi suất 33,2%/năm, không tài sản đảm bảo, không có bảo lãnh của bên thứ ba.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông N đã thực hiện các giao dịch dư nợ và lãi với số tiền 39.879.288đ. Đến ngày 25/01/2024 khoản vay của ông N đã bị nợ xấu khoản vay tại Công ty T. Do đó, khoản nợ thẻ tín dụng của ông N cũng bị nợ xấu tại Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C - Phòng G nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông N thanh toán nợ.

Đối với ông N vắng mặt không rõ lý do và không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án nên căn cứ vào Hợp đồng, đề nghị cấp thẻ tín dụng do Ngân hàng cung cấp để làm cơ sở xem xét theo yêu cầu của Ngân hàng.

[4] Xét về mục đích sử dụng thẻ tín dụng trong các giao dịch tiền của ông N là hình thức vay tiêu dùng thông qua thẻ tín dụng nên phải có trách nhiệm thanh toán. Đến ngày 25/01/2024 khoản vay của ông N đã bị nợ xấu tại Công ty T. Do đó, khoản nợ thẻ tín dụng của ông N cũng bị nợ xấu tại Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C - Phòng G nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc ông N có trách nhiệm thanh toán số tiền đã sử dụng trong tài khoản thẻ tín dụng là phù hợp.

3

Tính đến ngày xét xử 11/7/2024 ông N còn nợ và phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 45.604.609₫ (Trong đó: nợ gốc 40.786.712đ, lãi 4.817.897đ) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày tiếp theo ngày xét xử cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng (nếu có).

[5] Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng xác định giữa Ngân hàng và ông N không xác lập hợp đồng thế chấp tài sản, không có hợp đồng bảo lãnh của bên thứ ba, không có người đồng trách nhiệm của bên vay nên chỉ xem xét về yêu cầu thanh toán nợ của Ngân hàng đối với ông N. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đến việc bảo lãnh và nghĩa vụ thanh toán nợ của bên thứ ba.

[6] Đối với ông N vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đến khoản nợ mà Ngân hàng yêu cầu nên ông N phải có nghĩa vụ thanh toán theo số tiền mà Ngân hàng đặt ra. Trường hợp ông N có tài liệu, chứng cứ chứng minh đã thanh toán xong số tiền đã sử dụng trong tài khoản thẻ tín dụng thì thỏa thuận với Ngân hàng để đối trừ hoặc khởi kiện thành vụ án dân sự khác.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông N nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 144, khoản 1 điều 147, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C - Phòng G đối với ông Đỗ Bé N.

Buộc ông Đỗ Bé N có nghĩa vụ thanh toán số nợ cho Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C - Phòng G tính đến ngày xét xử 11/7/2024 với số tiền 45.604.609₫ (Trong đó: nợ gốc 40.786.712đ, lãi 4.817.897đ) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày tiếp theo ngày xét xử cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng (nếu có).

Trường hợp, hợp đồng không quy định lãi phát sinh thì Kể từ ngày Ngân hàng có đơn yêu cầu thi hành án, ông N có nghĩa vụ thi hành xong khoản tiền nêu trên. Trường hợp chậm thi hành thì còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Đỗ Bé N phải nộp số tiền là 2.280.000đ. (chưa nộp)

Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C - Phòng G không phải nộp án phí. Vào ngày 13 tháng 5 năm 2024, đã dự nộp 997.000₫ theo biên lai số 0016199 được hoàn lại khi bản án có hiệu lực.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

4

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điêu 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Diệp Chí Nguyện

NƠI NHẬN

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Thới Bình;
  • - THA dân sự huyện Thới Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/DS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 91/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C - Phòng G đối với ông Đỗ Bé N. Buộc ông Đỗ Bé N có nghĩa vụ thanh toán số nợ cho Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C - Phòng G tính đến ngày xét xử 11/7/2024 với số tiền 45.604.609đ (Trong đó: nợ gốc 40.786.712đ, lãi 4.817.897đ) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày tiếp theo ngày xét xử cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng (nếu có).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger