Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HS-PT

Ngày 10-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Năm.

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Ông Lê Quang Toại.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đại Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Huy Bình – Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 103/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Huỳnh Văn N, sinh ngày 01/02/1996 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn L và bà Đoàn Thị Xuân H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không;

    Tiền sự: Ngày 07/6/2023, bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Cố ý gây thương tích”, số tiền 5.000.000đồng, bị cáo đã chấp hành xong ngày 04/12/2023.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

  2. Nguyễn N1, sinh ngày 20/5/1961 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T (Chết) và bà Trần Thị T1 (Chết); vợ: Nguyễn Thị H1, có 03 con, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 27/11/2023, Nguyễn Tấn H2 cùng Huỳnh Văn N đến quán thịt chó của Nguyễn Tuấn V ở thôn V, xã P, thị xã Đ để nhậu, sau đó có Nguyễn N1 vào cùng nhậu chung với H2 và N. Quá trình nói chuyện, Nguyễn Tấn H2 nói việc mình hết tiền tiêu xài, nên Nguyễn N1 nói “Quán hết chó bán rồi”, H2 nói đêm lại sẽ “kéo chó” (tức là bắt trộm chó) để bán cho Nguyễn N1 thì N1 thống nhất (Nguyên thu mua chó để cho con trai mình bán) và sẽ để sẵn cửa cho H2 chở chó về quán, giá mua bán sẽ là 40.000/1kg. Huỳnh Văn N ngồi tại bàn nhậu nên biết và thống nhất việc thỏa thuận bắt chó trộm giữa H2 và N1, tức là tối ngày 27/11/2023 N và H2 sẽ đi bắt chó trộm của người dân sau đó sẽ mang đến bán cho Nguyễn Nguyên . Sau đó, Nguyễn N1 đi làm việc riêng của mình còn Nguyễn Tấn H2 và Huỳnh Văn N về lại xã P, thị xã Đ để chuẩn bị công cụ, phương tiện đi trộm cắp chó.

Khoảng 21 giờ ngày 27/11/2023, sau khi chuẩn bị công cụ, phương tiện xong gồm 01 bình ắc quy để trong balo màu đỏ gắn với dây điện và gắn với thòng lọng để xích cổ, kích điện, 01 balo màu đen bên trong có 01 bình xịt hơi cay để chống trả khi cần thiết, 02 cuộn băng keo đen để quấn miệng của chó, 05 bao đựng chó. Sau đó Huỳnh Văn N điều khiển xe mô tô mang BKS: 76L1 - 03793 của Nguyễn Tấn H2 nhưng đã bị các đối tượng lấy băng keo đen dán lại thành 78L1 – 09799 để tránh bị phát hiện chở Nguyễn Tấn H2 đi bắt trộm chó. 02 đối tượng đi dạo trên các tuyến đường trên địa bàn thị xã Đ để tìm bắt chó, bằng thủ đoạn khi thấy chó của người dân trên đường thì N giảm tốc độ và áp sát xe, H2 ngồi sau dùng thòng lọng kích điện và kéo cổ chó lại, N cùng H2 dùng băng dán quấn miệng chó và bỏ chó vào bao, sau đó tiếp tục đi bắt trộm các con chó khác. Trong đêm ngày 27/11/2023 Nguyễn Tấn H2 và Huỳnh Văn N đã chạy đến các địa phương Phổ Nhơn, Phổ V1, P và đã bắt trộm được 04 con chó của người dân trên địa bàn thị xã Đ gồm: 01 con chó lông màu vàng có khối lượng 18kg của bà Phạm Thị Bích L1; 01 con chó lông màu vàng có khối lượng 08kg của ông Nguyễn Đức S; 01 con chó lông màu vàng có khối lượng 16kg của ông Lê Anh B; 01 con chó lông trắng đốm vàng có khối lượng 12kg của bà Phạm Thị L1. Sau khi bắt trộm được chó xong thì Huỳnh Văn N điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Tấn H2 cùng 04 con chó đến nhà Nguyễn N1 để bán số chó vừa trộm cắp có được như hứa hẹn từ chiều. Khi đến nơi Nguyễn Tấn H2 tự mở cửa bên hông nhà của Nguyễn N1 để Huỳnh Văn N điều khiển xe vào, sau đó Nguyễn N1 thấy trên yên và ba ga trước xe có chó bắt trộm và máu chảy từ trong bao nên đi ra khóa cửa lại rồi cùng H2 và N bỏ chó vào các lồng sắt. Lúc này, lực lượng Công an thị xã Đ đi tuần tra phát hiện nên Nguyễn Tấn H2 và Huỳnh Văn N tẩu thoát theo phía sau nhà Nguyễn Nguyên. Công an thị xã Đ tiến hành kiểm tra, lập biên bản và tạm giữ 08 con chó, gồm: 04 con chó bị Nguyễn Tấn H2 và Huỳnh Văn N vừa mang đến bán cho Nguyễn N1 được nhốt trong các lồng sắt không có khay thức ăn, trong đó có 01 con bị chết, 04 con chó do Nguyễn N1 và Nguyễn Tuấn V mua trước đó của người dân được nhốt trong lồng sắt có khay thức ăn. Ngoài ra còn tạm giữ các vật chứng, đồ vật có liên quan.

Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐ ĐG ngày 07/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Đ kết luận tổng giá trị của 08 con chó là 5.580.000 đồng, qua đó tính riêng giá trị 04 con chó mà Nguyễn Tấn H2 và Huỳnh Văn N đã trộm cắp trong đêm 27/11/2023 là 2.830.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi:

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn N, Nguyễn N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn N 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn N1 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên về phần tội danh, hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tấn H2, phần xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 06/6/2024, bị cáo Nguyễn N1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Ngày 07/6/2024, bị cáo Huỳnh Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo

Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo Huỳnh Văn N, Nguyễn N1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với bị cáo Nguyễn N1, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định; đối với bị cáo Huỳnh Văn N, bị cáo có nhân thân xấu, ngày 07/6/2023, bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn N1, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Hành vi của bị cáo:

    Vào chiều ngày 27/11/2023 tại quán thịt chó của Nguyễn Tuấn V ở thôn V, xã P, thị xã Đ, các bị cáo Nguyễn Tấn H2, Nguyễn N1 và Huỳnh Văn N có sự bàn bạc thống nhất bắt trộm chó bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vào tối ngày 27/11/2023, tại các địa phương P, Phổ V1, P, Nguyễn Tấn H2 và Huỳnh Văn N lén lút trộm 04 con chó của người dân trên địa bàn thị xã Đ trị giá 2.830.000 đồng.

    Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Huỳnh Văn N, Nguyễn N1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

  2. [2] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
    1. [2.1] Đối với bị cáo Huỳnh Văn N: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại Nguyễn Đức S, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng thêm cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, ngày 07/6/2023, bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Cố ý gây thương tích”, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội; Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 tháng tù là cần thiết. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn N, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.
    2. [2.2] Đối với bị cáo Nguyễn N1: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp đơn xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo của bị hại Nguyễn Đức S. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng thêm cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự; hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù đối với bị cáo nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo; đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
  3. [3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  4. [4] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Văn N phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn N1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. [5] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn N. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi về phần hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Văn N.

    Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn N 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nguyên . Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Nguyên .

    Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn N1 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 10/9/2024).

    Giao bị cáo Nguyễn N1 cho Ủy ban nhân dân xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án;

    Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự

  3. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Văn N phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn N1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND, TAND thị xã Đức Phổ;
  • - Công an thị xã Đức Phổ;
  • - THA dân sự thị xã Đức Phổ;
  • - UBND xã Phổ Thuận, TX Đức Phổ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Năm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-PT ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 91/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn N và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger