Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Số: 91/2024/HSST

Ngày: 10 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ung Thị Ngọc Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khoản

Ông Phạm Minh Sơn

-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Vi – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Nở – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/HSST ngày 20 tháng 8 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/HSST-QĐ ngày 23/8/2024 đối với các bị cáo:

  1. Phùng Kỳ A, sinh năm 1977 tại Vĩnh Phúc; Tên gọi khác: Không; HKTT: Khu A, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi tạm trú: Khu phố C, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Kinh doanh; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Kỳ T, sinh năm 1939 và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1940; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1997 và nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 14/6/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
  2. Phạm Văn P, sinh năm 1991 tại Hải Dương; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Tổ F, khu phố H, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo:Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V, sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; vợ: Tống Thị T1, sinh năm 1990; con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2018 và nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 14/6/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
  3. Nguyễn Quang T2, sinh năm 1986 tại Thừa Thiên Huế; Tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Tổ A, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Kinh doanh; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T3, sinh năm 1962 và con bà Hoàng Thị Mộng D, sinh năm 1963 (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1991; con: Nguyễn Anh T4, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 14/6/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
  4. Lâm Văn Đ1, sinh năm 1975 tại Bình Phước; tên gọi khác: Không; nơi HKTT: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nơi ở hiện tại: Khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Khơmer; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn L1, không rõ năm sinh (đã chết) và con bà Thạch Ú, sinh năm 1948; vợ: Lê Thị Bé H1, sinh năm 1976; con: Có 03 người con: Lâm Văn Quốc B, sinh năm 1998; Lâm Văn K, sinh năm 2000 và Lâm Văn Đ2, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 14/6/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
  5. Trần Bảo T5, sinh năm 1989 tại Bình Phước; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Tổ A, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T6, sinh năm 1963 và con bà Trần Thị T7, sinh năm 1964; vợ: Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1991; con: có 02 người con: Trần Ngọc L2, sinh năm 2018 và Trần Ngọc Thiên P1, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 14/6/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phùng Kỳ A, Phạm Văn P, Nguyễn Quang T2, Lâm Văn Đ1 và Trần Bảo T5 có mối quan hệ là bạn bè và chơi chung với nhau. Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 05/06/2024, T5 gọi điện rủ Kỳ A đánh bạc thắng thua bằng tiền thì Kỳ A đồng ý. Lúc này, Kỳ A gọi cho Đ1, rủ đến nhà tại khu phố C, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước cùng tham gia đánh bạc.

Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, T5 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA morning, màu bạc, loại 4 chỗ ngồi, biển số 93A - 091.24 chở theo Phạm Văn P; Đèo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu đỏ - đen, biển số 69F1 - 451.79 chở Nguyễn Quang T2 đến nhà Kỳ A để cùng tham gia đánh bạc. Tại đây, Kỳ A lấy 07 bộ bài tây, loại 52 lá (có trong nhà) và lấy chiếc chiếu kích thước (175x195) cm, trải tại gian nhà bếp để cả nhóm cùng chơi. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thị xã C phối hợp Công an phường H tiến hành bắt người phạm tội quả tang các bị can trên.

Quá trình điều tra đã xác định số tiền các bị can sử dụng để đánh bạc như sau:

- Đối với Phùng Kỳ A: Tiền vốn ban đầu sử dụng dùng để đánh bạc là 6.500.000 đồng (gồm tiền mặt là 4.500.000 đồng và trong quá trình chơi, Kỳ A thua nên đã sử dụng số tài khoản 102883626666, của Ngân hàng V1 do Kỳ A làm chủ tài khoản chuyển khoản cho P đổi lấy thêm số tiền 2.000.000 đồng tiền mặt), làm vốn để chơi tiếp. Khi bị bắt quả tang, Kỳ A có số tiền là 1.650.000 đặt trước mặt tại chiếu bạc và tiền gà 50.000 đồng đặt cược trên chiếu bạc. Vậy, trong quá trình tham gia đánh bạc Kỳ A thua tổng số tiền là 4.800.000 đồng.

- Đối với Phạm Văn P: Tiền vốn ban đầu sử dụng dùng để đánh bạc là 2.700.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, P có số tiền là 2.900.000 đặt trước mặt tại chiếu bạc, tiền gà và số tiền 2.000.000 đồng trong tài khoản số [...], của Ngân hàng L3 do P là chủ tài khoản (số tiền này do Kỳ A chuyển khoản đổi tiền mặt). Vậy, trong quá trình tham gia đánh bạc P đã thắng tổng số tiền là 2.200.000 đồng. Đối với số tiền 500.000 đồng cất trong bóp, quá trình điều tra P khai nhận là số tiền P được lì xì hôm tết 2024, P cất giữ, không sử dụng cho đến nay.

- Đối với Nguyễn Quang T2: Tiền vốn ban đầu sử dụng dùng để đánh bạc là 1.600.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, T2 có số tiền là 5.250.000 đồng đặt trước mặt tại chiếu bạc và tiền gà (do ván trước T2 thắng nên phải đặt thêm 50.000 đồng tiền gà). Vậy, trong quá trình tham gia đánh bạc T2 đã thắng tổng số tiền là 3.650.000 đồng.

- Đối với Lâm Văn Đ1: Tiền vốn ban đầu sử dụng dùng để đánh bạc là 2.200.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, Đ1 có số tiền là 850.000 đồng đặt trước mặt tại chiếu bạc và tiền gà. Vậy, trong quá trình tham gia đánh bạc Đ1 đã thua tổng số tiền là 1.350.000 đồng.

- Đối với Trần Bảo T5: Tiền vốn ban đầu sử dụng dùng để đánh bạc là 2.000.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, T5 có số tiền là 2.300.000 đồng đặt trước mặt tại chiếu bạc và tiền gà. Vậy, trong quá trình tham gia đánh bạc T5 đã thắng tổng số tiền là 300.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền khi bắt quả tang tại chiếu bạc và trên người của các bị cáo là 13.500.000 đồng; các bị cáo khai nhận tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 15.000.000 đồng, chênh lệch với số tiền khi bắt quả tang là do trong quá trình đánh bạc, Kỳ A đã chuyển khoản vào số tài khoản số [...], của Ngân hàng L3 do P là chủ tài khoản với số tiền 2.000.000 đồng; còn lại số tiền 500.000 đồng là tiền của P, không sử dụng vào việc đánh bạc. (Bút lục 40-43; 85-88; 132-135; 179-182; 224-227)

Vật chứng vụ án đã thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro; Sim số 0984721279 của Phùng Kỳ A; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro max; Sim số 0962.498.888; 01 ví da màu đen, có chữ “TISDENY” và 500.000 đồng của Phạm Văn P; 01 điện thoại di động hiệu S; Sim số 0974518542của Nguyễn Quang T2; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105; Sim số 0349194051 của Lâm Văn Đ1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max; Sim số 0974773334của Trần Bảo T5; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Blade, màu đỏ đen, biển số 69F1-451.79, xe có giấy CNĐK số 030295, của anh Lâm Văn Quốc B; 01 xe ô tô hiệu Kia, loại Morning, màu bạc, biển số 93A-091.24, của ông Trần Văn T6. Các đồ vật trên là phương tiện liên lạc và đi lại của các bị cáo và là tài sản hợp pháp nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu.(Bút lục 247-253)

Đối với 04 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 03 bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng và 01 tấm chiếu màu vàng - nâu, có viền bằng vải màu nâu, kích thước (175x195) cm và số tiền 15.000.000 đồng đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước để quản lý theo quy định.

Cách thức đánh bạc và xác định thắng thua: các bị cáo sử dụng bộ bài tây 52 lá để chơi. Trước khi chia bài, mỗi người chơi phải đặt xuống chiếu bạc số tiền 50.000 đồng, riêng người thắng ván trước đó phải đặt số tiền 100.000 đồng, gọi là “tiền gà”. Sau đó, người chia bài sẽ chia cho mỗi người 03 lá bài, người thắng ở ván trước đó sẽ là người chia bài. Sau khi xem bài, thì người chơi sẽ tùy thuộc vào điểm 3 lá bài của mình, có thể tố hoặc không tố; người ngồi bên phải người chia bài được tố trước, sau đó đến các người chơi còn lại. Nếu người nào không tố thì úp bài, coi như ván đó thua và mất số tiền 50.000 đồng, tố cao nhất của mỗi lần tố là số tiền 500.000 đồng, không giới hạn các lần tố, đến khi cân (không ai tố nữa) thì lật bài để xác định thắng thua.

Quy định thứ tự như sau: Lớn nhất là “sáp”, tức là ba lá bài giống nhau cùng bộ, khác chất. Nếu nhiều người cùng có bài “sáp” thì “sáp” to thắng “sáp” nhỏ. Lớn thứ hai là “liêng”, tức là có 03 quân liên tiếp nhau, có thể cùng chất hoặc không cùng chất, nếu nhiều người cùng có “liêng” thì “liêng” to thắng “liêng” nhỏ. Lớn thứ ba là “ba tây”, tức là có 03 quân bài J, Q, K (không thuộc trường hợp “sáp” hoặc “liêng”). Cuối cùng là tính điểm, tổng điểm tính đến 9 (theo quy định cộng tổng điểm của 03 quân bài lại rồi trừ đi 0 hoặc 10 hoặc 20, quân bài có hình tính bằng 0 điểm, quân A tính bằng 1 điểm), bài nào điểm lớn hơn thì thắng. Nếu những người chơi có cùng số điểm thì hòa, không so sánh chất theo thứ tự bé dần là: cơ, rô, chuồn, bích. Bài của ai lớn nhất thì thắng và được thu hết tiền (gồm cả tiền “gà” và tiền “tố”) của những người chơi khác.

Bản cáo trạng số 93/CTr-VKS, ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Phùng Kỳ A, Phạm Văn P, Nguyễn Quang T2, Lâm Văn Đ1, Trần Bảo T5 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17,50,58, 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Phạm Kỳ A1 40 - 50 triệu đồng; xử phạt bị cáo Trần Bảo T5 30-40 triệu đồng; xử phạt bị cáo Lâm Văn Đ1, Nguyễn Quang T2, Phạm Văn P 20-30 triệu đồng.

Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố và không có ý kiến gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

    Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại nhà của Phùng Kỳ A thuộc khu phố C, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, Phùng Kỳ A, Phạm Văn P, Nguyễn Quang T2, Lâm Văn Đ1, Trần Bảo T5 cùng nhau tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 15.000.000đồng. Do đó, hành vi của Phùng Kỳ A, Phạm Văn P, Nguyễn Quang T2, Lâm Văn Đ1, Trần Bảo T5 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Hình sự. Do đó, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 93/CTr-VKS, ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

  3. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
    1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
    2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

      Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

      Đây là vụ án đồng phạm giản đơn trong đó bị cáo Phùng Kỳ A là người sử dụng số tiền đánh bạc lớn nhất, bị cáo A rủ bị cáo Đ1 tham gia đánh bạc, chuẩn bị bài, chiếu cho các bị cáo tham gia đánh bạc nên cần xử phạt bị cáo Phùng Kỳ A mức hình phạt nghiêm khắc nhất. Bị cáo Trần Bảo T5 là người khởi xướng việc đánh bạc và rủ các bị cáo T2, P tham gia đánh bạc nên phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo Đ1, P, T2.

      Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt nên không cần thiết phải cách li các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

  4. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  5. Về xử lý vật chứng: Đối với 04 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 03 bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng và 01 tấm chiếu màu vàng - nâu, có viền bằng vải màu nâu, kích thước (175x195) cm là các vật dụng bị cáo dùng để đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy.

    Số tiền 15.000.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước

  6. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 35,50,58 Bộ luật hình sự

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phùng Kỳ A, Phạm Văn P, Nguyễn Quang T2, Lâm Văn Đ1, Trần Bảo T5 phạm tội “Đánh bạc
  2. Về hình phạt:
    • Xử phạt bị cáo Phùng Kỳ A 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng)
    • Xử phạt bị cáo Phạm Văn P 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T2 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)
    • Xử phạt bị cáo Lâm Văn Đ1 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)
    • Xử phạt bị cáo Trần Bảo T5 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng)
  3. Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
    • Tịch thu tiêu hủy: 04 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 03 bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng và 01 tấm chiếu màu vàng - nâu, có viền bằng vải màu nâu, kích thước (175x195) cm
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 15.000.000 đồng
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - CCTHADS thị xã Chơn Thành;
  • - CA thị xã Chơn Thành;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ung Thị Ngọc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HSST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về đánh bạc (hình sự)

  • Số bản án: 91/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phung ky anh đanh bac
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger