TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
Bản án số: 91/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10/6/2024
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Trung và ông Dương Thanh Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk: Ông Lê Minh Thuận – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2024 ngày 04/01/2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 22/4/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trương Hoàng L - Đề nghị xét xử vắng mặt
Nơi cư trú: Số C đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
Bị đơn: Anh Hoàng Đức T - Vắng mặt
Nơi cư trú: Số C đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Trương Hoàng L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi anh T tự nguyện chung sống với nhau có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, Đ, Quảng Bình vào ngày 12/12/2008. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do vợ chồng chung sống không hợp, bất đồng quan điểm sống, hay cãi vã nhau. Vì vậy chị L làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án cho chị ly hôn với anh T.
Về con chung: Tôi và anh T 01 con chung là cháu Hoàng Lan N, sinh ngày 19/9/2010 và cháu Hoàng Gia H, sinh ngày 25/7/2015. Hiện nay tôi đang trực tiếp nuôi 02 con chung. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có
2. Đối với bị đơn anh Hoàng Đức T: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng và không tham gia phiên tòa, qua xác minh tại địa phương cho biết hiện nay anh T hiện tại đang cư trú tại địa phương về nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không nắm rõ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Thủ tục tố tụng: N1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Toà án triệu tập tham gia phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết là ly hôn và nuôi con đây là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3].Về nội dung: Chị Trương Hoàng L và anh Hoàng Đức T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình duy trì quan hệ hôn nhân có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Hội đồng xét xử, xét thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh T đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Hoàng L là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Về con chung: Chị L và anh T có cá con chung là cháu Hoàng Lan N, sinh ngày 19/9/2010 và cháu Hoàng Gia H, sinh ngày 25/7/2015. Hiện nay chị L đang trực tiếp nuôi 02 con chung. Khi ly hôn chị L có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu N và cháu N2 cũng có nguyện vọng ở với chị L và hiện nay 02 con đang còn nhỏ nên cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ để đảm bảo sự phát triển toàn diện cho các cháu nên cần giao 02 cháu cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp; Về cấp dưỡng nuôi con chung chị L không yêu cầu nên không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí: Nguyên đơn chị Trương Hoàng L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 144, Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228 Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng: Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Hoàng L
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Hoàng L được ly hôn với anh Hoàng Đức T
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Lan N, sinh ngày 19/9/2010 và cháu Hoàng Gia H, sinh ngày 25/7/2015 cho chị Trương Hoàng L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Nguyên đơn chị Trương Hoàng L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0005027 ngày 27/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND tỉnh Đắk lắk; - VKSND TP.BMT; - CCTHADS TP. BMT; - UBND P.Đồng Phú;Tp. Đồng Hới Quảng Bình; - Các đương sự; - Lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 91/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 91/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Hoàng Lan 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Hoàng Lan được ly hôn với anh Hoàng Đức Tâm 2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Lan Ngọc, sinh ngày 19/9/2010 và cháu Hoàng Gia Hân, sinh ngày 25/7/2015 cho chị Trương Hoàng Lan trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
