TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2024/HS-PT Ngày: 08-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Duy Hoài |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Hữu Hồng |
| Ông Nguyễn Công Hoàn |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Phan Xuân T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 21/02/2024 của Tòa án nhân huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo kháng cáo: Phan Xuân T, sinh năm: 1985 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT: Số B H, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: Số B M, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Phan Xuân Q (liệt sỹ); con bà: Đinh Thị Â; vợ Nguyễn Thị Ngọc M; bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Văn H – Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L. Có mặt.
Trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 07/01/2023, Công an xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng tiến hành kiểm tra hành chính tại khu vực hồ cá thuộc tiểu khu A thuộc xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng do ông Nguyễn Xuân Đ làm chủ. Quá trình kiểm tra, phát hiện tại khu vực phòng ngủ thứ nhất của công nhân có 01 (một) vật dạng súng có ký hiệu: Model 70 WINCHESTER CZ 22IR, bên trên một vật dạng ống ngắm dài 33cm, có ký hiệu TMD4-14X44/30, được cất trong góc tường phía sau tủ gỗ; Tại phòng ngủ thứ hai của công nhân phát hiện 01 (một) vật dạng súng có ký hiệu MODELE V49 – N° 11869 được giấu trong ngăn cuối tủ nhựa đựng quần áo; Tại nhà kho phát hiện 01 (một) vật dạng súng không có ký hiệu đặt trên ghế gỗ bên trên phủ màn ngủ; Tại nhà kho phát hiện một ba lô màu đen bên trong có chứa một số linh kiện bằng kim loại nghi dùng để chế tạo súng và một túi nylon bên trong có chứa 43 viên đạn. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản thu giữ và niêm phong các vật chứng nêu trên.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng tháng 7, tháng 8 năm 2022, Phan Xuân T đã mua lại cổ phần trại cá của ông Huỳnh Đức P tại tiểu khu A, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Hàng tuần Phan Xuân T vào trại cá để chơi, nuôi cá và tổ chức ăn uống cùng với Mai Văn N, Đỗ Thị L, Trần Văn C, Hoàng Văn L1, H1 và T1 (tất cả đều là bạn bè). Tại trại cá tầm, T có gặp Nguyễn Xuân T2 (là anh vợ của Nguyễn Xuân Đ), Nguyễn Văn Đ1 là người làm thuê cho ông Đ. Khoảng tháng 11 năm 2022, khi T vào trại cá đã nhìn thấy 01 khẩu súng tự chế có kích thước tổng thể 18,5cm x 93,7cm, cỡ nòng 5,6mm và đã có đạn trong khẩu súng (T không biết trong băng đạn có bao nhiêu viên đạn) được dựng ở phía trong góc cửa của phòng ngủ - khu nhà nhân viên trại cá, T đã lấy khẩu súng mang ra phía trước sân của khu nhà ở tại trại cá để bắn thử. Khi thử súng, Tứ ngắm vào các lon Redbull treo trên cây tre ở phía nhà vệ sinh phía bên kia bờ ao cách vị trí Tứ ngắm bắn là 35m, T dùng tay ấn mở chốt khóa cò, bóp cò thì súng nổ. Sau khi T bắn nổ viên đạn thứ hai thì T đã mang súng cất vào vị trí cũ.
Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L đã tiến hành xác định hiện trường T sử dụng súng và thu giữ 03 vỏ lon Redbull có các lỗ thủng do đạn bắn ra. Tuy nhiên, không xác định khi sử dụng súng Tứ đã bắn trúng vỏ lon nào và do thời gian sử dụng súng đã lâu nên không phát hiện và thu giữ được các vỏ đạn. Khi lấy súng ra sử dụng, T không hỏi hoặc xin phép ai, chỉ có một mình và không có ai khác cùng sử dụng súng. T không biết khẩu súng này của ai và cũng không thấy ai sử dụng khẩu súng này trong quá trình T vào làm việc tại đây.
Vật chứng thu giữ trong vụ án:
01 (một) vật dạng súng dài 111cm, có báng, ốp tay bằng gỗ màu nâu đầu nòng gắn vật dạng vật giảm thanh kích thước 17cm x 2,8cm (không có ký hiệu). Trên nòng súng có ký hiệu: Model 70 WINCHESTER CZ 22IR, bên trên một vật dạng ống ngắm dài 33cm, có ký hiệu TMD4-14X44/30.
01 (một) vật dạng súng dài 93,5cm báng gỗ màu nâu ốp tay bằng gỗ màu đen trên nòng súng có ký hiệu MODELE V49 – N° 11869, gắn đèn lazer có kích thước 9,8cm x 1,7cm.
01 (một) vật dạng súng dài 89cm, có báng, ốp tay bằng gỗ màu vàng, không có ký hiệu, gắn đèn lazer có kích thước 7,8cm x 1,8cm.
01 (một) vật dạng súng bằng kim loại dài 18,5cm, không có ký hiệu, không có hộp tiếp đạn; 23 (hai mươi ba) vật dạng viên đạn, kích thước 2,5 x 0,5cm, thân màu bạc, đầu màu vàng đồng; 01 (một) vật dạng viên đạn kích thước 2,5 x 0,8cm đuôi có ký hiệu “38 89” màu vàng đồng, đầu và đuôi có vòng tròn màu đỏ; 01 (một) vật hình viên đạn kích thước 3,9 x 1cm màu vàng đồng, đuôi có ký hiệu RA 07; 02 (hai) vật hình viên đạn kích thước 3,5 x 0,9cm màu vàng đồng, đuôi có ký hiệu 13 2009; 09 (chín) hình viên đạn có kích thước 3,5 x 0,9cm màu vàng đồng đuôi có ký hiệu 38 83; 01 (một) vật hình viên đạn kích thước 3,5 x 0,9cm màu vàng đồng, đuôi có ký hiệu 38 86; 01 (một) vật hình viên đạn kích thước 3,5 x 0,9cm màu vàng đồng, đuôi có ký hiệu 38 49; 05 (năm) vật hình viên đạn kích thước 3,5 x 0,9cm màu vàng đồng, không có ký hiệu;
Thu giữ tại Biên bản xác định hiện trường ngày 12/5/2023: 03 vỏ lon Redbull.
Kết luận giám định:
Ngày 10/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 06/QĐ-ĐTTH đối với các vật dạng súng và các vật dạng viên đạn đã thu giữ tại khu vực trại nuôi cá tầm của ông Nguyễn Xuân Đ tại Tiểu khu A, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 28/02/2023, Phòng K Công an tỉnh L có Kết luận giám định số 39/KL-KTHS, kết luận:
- Vật dạng khẩu súng dài có kích thước tổng thể 19cm x 89cm (ký hiệu A1) gửi giám định là súng tự chế cỡ nòng 5,7mm, thuộc vũ khí quân dụng (khẩu súng hiện còn sử dụng để bắn được).
- Vật dạng khẩu súng dài có kích thước tổng thể 18,5cm x 93,7cm (ký hiệu A2) gửi giám định là súng tự chế cỡ nòng 5,6mm, thuộc vũ khí quân dụng (khẩu súng hiện còn sử dụng để bắn được).
- Vật dạng khẩu súng dài có kích thước tổng thể 25,5cm x 111cm (ký hiệu A3) gửi giám định là súng tự chế cỡ nòng 5,6mm, thuộc vũ khí quân dụng (khẩu súng hiện còn sử dụng để bắn được).
- Vật dạng khẩu súng dài có kích thước tổng thể 11,5cm x 18,5cm (ký hiệu A4) gửi giám định là dạng súng ngắn tự chế chưa hoàn chỉnh không thuộc danh mục các loại vũ khí. (thiếu các bộ phận nòng súng, kim hỏa, lò xo và búa đập).
- Hai mươi ba (23) viên kim loại dạng viên đạn, bên ngoài mặt đáy ký hiệu “S B” gửi giám định không phải là vũ khí quân dụng (là đạn thể thao cỡ 5,6 x 15,6mm thuộc vũ khí thể thao). Các viên đạn này sử dụng được cho ba (03) khẩu súng (ký hiệu A1, A2, A3) gửi giám định kèm theo.
- Hai mươi (20) viên kim loại dạng viên đạn, trong đó một (01) viên cỡ 09 x 15,6mm, một (01) viên cỡ 09 x 29,5mm và mười tám (18) viên cỡ 7,62 x 25mm gửi giám định là đạn quân dụng thuộc vũ khí quân dụng. Các viên đạn này không sử dụng được cho ba (03) khẩu súng (ký hiệu A1, A2, A3) gửi giám định kèm theo.
Ngày 16/5/2023, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L có Công văn số 89/ANĐT gửi Phòng K Công an tỉnh L về việc xác định chủng loại, số lượng vũ khí quân dụng.
Ngày 17/5/2023, Phòng K Công an tỉnh L có Công văn số 259/CV-PC09 xác định: Ba (03 khẩu súng dài có kích thước tổng thể lần lượt là 19cm x 89cm (ký hiệu A1), 18,5cm x 93,7cm (ký hiệu A2) và 25,5cm x 111cm (ký hiệu A3) được nêu trong kết luận giám định số 39/KL-KTHS ngày 28/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh L đều là súng trường tự chế thuộc vũ khí quân dụng.
Xử lý vật chứng trong vụ án: Ngày 07/8/2023, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L đã có Công văn số 716/CV-ANĐT về việc phối hợp gửi vật chứng đã thu giữ trong vụ án tại kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 13-VC/LNK-2023 ngày 07/8/2023 của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh L đối với: 03 khẩu súng, 01 vật dạng súng ngắn, 13 viên đạn thể thao, 01 viên đạn cỡ 09mm x 18mm, 01 viên đạn cỡ 09mm x 29,5mm và 14 viên đạn cỡ 7,62mm x 25mm để bảo quản theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 39/CT-VKSLĐ-P1 ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Phan Xuân T về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Bản án sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 21/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng đã xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phan Xuân T phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 38; điểm s, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phan Xuân T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 23/02/2024, bị cáo kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét áp dụng hình phạt khác cho bị cáo, xem xét giảm nhẹ hình phạt, mà không phải hình phạt tù.
Tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư Nguyễn Văn H bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Bị cáo đã nộp tiền phạt bổ sung; là lao động chính đang nuôi mẹ già (là vợ liệt sĩ). Đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xét xử, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ để Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Phan Xuân T là người có cổ phần sở hữu tại trại cá tầm, thuộc thôn A, xã Đ nên bị cáo thường xuyên đến trại cá để quản lý và trông coi tài sản; tại trại cá này có nhiều người cùng ở lại; khoảng tháng 11/2023, khi vào trại cá, bị cáo thấy khẩu súng dựng trong phòng ngủ nên bị cáo đã lấy ra để bắn (bị cáo không biết súng mà bị cáo sử dụng là của ai); bị cáo sử dụng một khẩu súng có ống ngắm để bắn, mục tiêu ngắm bắn là vỏ các lon nước ngọt đã được treo ở trên cây, cách chỗ bị cáo đứng bắn là khoảng 35m. Sau khi bắn 02 viên đạn thì bị cáo lại để súng vào chỗ cũ. Khi Công an vào kiểm tra trại cá và thu giữ 1 số súng, đạn, trong đó có khẩu súng mà bị cáo đã sử dụng; bị cáo xác định, không biết nguồn gốc của số súng đạn bị thu giữ.
Cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện chứng cứ, đối chiếu lời khai của bị cáo, vật chứng thu giữ, kết luận giám định; đã tuyên bố bị cáo Phan Xuân T phạm tội
“Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Phan Xuân T: Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong hạn luật định và đúng quy định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo biết việc sử dụng súng, đạn là vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng, song bị cáo vẫn sử dụng khi không được sự cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hành vi bắn súng của bị cáo tại trại cá tầm thuộc tiểu khu A, xã Đ đã làm ảnh hưởng trật tự trị an, gây mất an ninh, an toàn cho người dân địa phương. Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 12 (mười hai) tháng tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo và xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như là lao động duy nhất đang nuôi mẹ (là vợ liệt sĩ) và con còn nhỏ; bị cáo đã nộp phạt bổ sung 10.000.000đ (theo Biên lai số 0000143 ngày 29/2/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Dương). Xét thấy bị cáo nhất thời phạm tội và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên toà là phù hợp.
[4] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Xuân T, sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Phan Xuân T phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 304; các điểm s, x khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Xuân T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (08-7-2024). Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ để sung ngân sách nhà nước (bị cáo đã nộp 10.000.000đ và 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai số 0000412 và 0000413 ngày 29/2/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Dương).
Giao bị cáo Phan Xuân T cho Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo
có trách nhiệm phối hợp cùng Chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người bị kết án có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. (đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
2. Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Phan Xuân T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hoài |
Bản án số 92/2024/HS-PT ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 92/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Xuân T "Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng"
