TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ H | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2024/HS-ST Ngày: 08 – 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Mến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Công Hạ
Bà Bùi Thuý Mở
- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Thế Thành – Thư ký Toà án nhân dân huyện T, thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, H, Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 gồm có bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1988, tại H; Nơi cư trú: thôn Đ, xã D, huyện Thủy Nguyên, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ H vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị H đều (đã chết); Gia đình có 03 anh chị em, bị can là con lớn nhất; vợ Nguyễn Thị X, sinh năm 1990, có 03 con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 148/2012/HSST, ngày 26/9/2012 của Toà án nhân dân huyện T, thành phố H xử phạt 09 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/6/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/3/2013, phải thi hành 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, đã thi hành xong được Toà án nhân dân huyện T cấp giấy xác nhận xoá án tích số 05/2017/GCNXA, ngày 03/3/2017.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 04/01/2024 chuyển tạm giam. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 45 phút, ngày 29/12/2023 tại đường liên xã thuộc thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố H. Đội cảnh sát điều tra tội phạm ma tuý công an huyện T kết hợp với công an xã D phát hiện Nguyễn Văn H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố H có biểu hiện cất giấu trái phép chất ma tuý. Tiến hành kiểm tra, lực lượng công an thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên trái của H 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma tuý); 01 xe mô tô biển kiểm soát 15B1-29090 do Nguyễn Văn H điều khiển. Quá trình kiểm tra xe mô tô trên không phát hiện, thu giữ gì. Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng trên để điều tra giải quyết.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Nguyễn Văn H tại thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố H không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản có liên quan.
Tại bản kết luận giám định số: 1097/KL – KTHS, ngày 02/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn H khi bắt quả tang là ma tuý, có khối lượng 0,25gam, loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận: Do nghiện ma tuý Heroine nên H thường xuyên đi mua ma tuý về sử dụng. Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 29/12/2023, H một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B1 – 29090 đi từ nhà tại thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố H sang khu vực quận Hồng Bàng, thành phố H mua ma tuý. Tại đây H gặp một người phụ nữ không quen biết và mua 01 gói ma tuý Hêroine với giá tiền là 200.000 đồng. Mua được ma tuý, H cất giấu vào túi áo khoác phía trước bên trái của H đang mặc rồi điều khiển xe mô tô 15B1 – 29090 ra về tìm nơi sử dụng. Khi về đến khu vực đoạn đường liên xã thuộc thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố H thì bị cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang cùng vật chứng.
Tại bản Cáo trạng số: 78/CT- VKSTN ngày 21/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Tại phiên toà Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H trình bày lời luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh đối với bị cáo Nguyễn Văn H; Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 18 đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/12/2023.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Văn H.
Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 1097MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H chứa chất ma tuý (0,14 gam Hêrôin) và vỏ bao bì còn lại sau giám định và buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên thu thập, do người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác thu thập, cung cấp đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại do đó các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ vị trí, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số 1097/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét và công bố công khai tại phiên toà đã có đủ căn cứ kết luận: Do nghiện ma tuý, để có ma tuý sử dụng, khoảng 11 giờ 30 phút ngày 29/12/2023, bị cáo đã một mình điều khiển xe mô tô BKS: 15B1-29090 sang khu vực quận Hồng Bàng, thành phố H mua ma tuý của
một người không quen biết và mua 01 gói ma tuý Heroin với giá tiền là 200.000 đồng. Mua được ma tuý, bị cáo cất giấu vào túi áo khoác phía bên trái đi về đến khu vực đường liên xã thuộc thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố H thì bị công an kiểm tra và bắt quả tang. Lượng ma tuý bị thu giữ có khối lượng là 0,14gam, loại Heroin. Vì vậy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Xem xét đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và quyết định hình phạt.
Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của người có hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội nghiêm trọng. Bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Chồng người thi hành công vụ” mặc dù đã được xoá án tích nhưng đánh giá bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo lại tiếp tục phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, bảo đảm trừng trị người phạm tội, đồng thời bảo đảm giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm.
[5] Về hình phạt bổ sung
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp
và không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng
Biên bản giao nhận vật chứng và Phiếu nhập kho ngày 14/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố H các vật chứng cần xử lý gồm có: 01
phong bì niêm phong số 1097MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H chứa chất ma tuý (0,14 gam Hêrôin) và vỏ bao bì còn lại sau giám định, ma tuý là chất thuộc danh mục nhà nước cấm lưu hành, nên cần tuyên tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về án phí
Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về những nội dung khác
Trong vụ án này, còn có đối tượng bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn H, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HODA mang biển kiểm soát 15B1 – 290.90 do bị cáo điều khiển, quá trình điều tra xác định số khung, số máy của xe là số nguyên thuỷ của nhà sản xuất đóng, không bị tẩy xoá, sửa chữa, chiếc xe mô tô trên chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cơ quan điều tra đã tách ra, xử lý sau.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29 tháng 12 năm 2023.
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định:
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 1097MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H chứa chất ma tuý (0,14 gam Hêrôin) và vỏ bao bì còn lại sau giám định, tại Biên bản giao nhận vật chứng và Phiếu nhập kho ngày 14/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố H.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mến |
Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ H về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 91/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 24 tháng tù
