|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 91/2023/HS-ST Ngày: 07-11-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Như
2. Ông Phạm Quốc Vượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2023/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2023/QĐXX ST- HS ngày 24/10/2023 đối với bị cáo:
Đặng Thị Diệu P, sinh năm 1988; Nơi sinh: tỉnh Tây Ninh.
Tên gọi khác: T; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 05/12.
Nơi cư trú: Khu P, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Nơi tạm trú: Tổ E, khu phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1961 và bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1961 (đã chết); Bị cáo có 06 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1992, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Bị cáo sống chung như vợ chồng vơi Hồ Thế C, sinh năm 1982 (đã chết), có 02 con chung là Hồ Duy T2, sinh năm 2007 và Hồ Duy Đ, sinh năm 2007; sống chung như vợ chồng với Phan Thanh P1, có 01 con chung là Phan Diệu N, sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 07/6/2023, có hành vi Môi giới mại dâm xảy ra tại khu phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước bị bắt khẩn cấp và tạm giữ; Ngày 13/6/2023, bị khởi tố và Lệnh tạm giam bị cáo; Ngày 08/9/2023 được Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn
Quản thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam thay bằng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đặng Thị Diệu P, (tên thường gọi là T) đã thuê nhà của chị Nguyễn Thị Tuyết M1, sinh năm 1978 tại tổ E, khu phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước từ năm 2016 đến nay để buôn bán quán cà phê – nước giải khát và đặt tên quán biển hiệu là “T”. Đến đầu tháng 01 năm 2023, để có tăng thêm thu nhập nên P đã thuê nhân viên nữ đến quán cà phê “T” làm, khi có khách là nam giới đến uống nước mà có nhu cầu mua dâm, P sẽ để nhân viên thoả thuận việc mua bán dâm với khách, sau đó đưa khách đến nhà nghỉ thực hiện việc mua bán dâm, đồng thời P thỏa thuận với nhân viên khi bán dâm tại nhà nghỉ xong sẽ quay về phải đưa cho P số tiền 50.000 đồng/1 lần bán dâm cho khách.
Khoảng tháng 01/2023, P thuê Phan Ánh T3, sinh năm 1981, nơi thường trú: 382/20, Tôn Đức T4, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng vào quán của P làm tiếp viên và P thỏa thuận với T3 là làm công việc phục vụ bưng bê nước, dọn dẹp quán nhưng P không trả tiền lương cho T3, đồng thời T3 muốn có tiền thì phải hoạt động mua bán dâm hoặc mát-xa kích dục cho khách; việc mát-xa kích dục cho khách thì T3 được thực hiện ngay tại quán của P, giá một lần mát-xa kích dục thường T3 lấy của khách là 200.000 đồng; còn khi khách có nhu cầu mua dâm thì T3 sẽ tự thoả thuận với khách về giá tiền mua bán dâm, sau đó sẽ đưa khách đến nhà nghỉ “Gia Phúc” tại khu phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước để thực hiện việc mua bán dâm, giá một lần bán dâm cho khách thường T3 lấy của khách là 400.000 đồng. Sau khi bán dâm cho khách xong thì T3 phải đưa cho P số tiền 50.000 đồng cho mỗi lần bán dâm cho khách.
Đến ngày 06/6/2023, P tiếp tục thuê thêm Đàm Thị H, sinh năm 1994, nơi thường trú: thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông đến quán của P làm nhân viên, đồng thời P thoả thuận như sau: H có nhiệm vụ bưng bê nước cho khách, trông coi quán, quét dọn quán, P cũng không trả tiền lương cho H mà trả công bằng cách cho ăn uống buổi trưa và buổi tối, H muốn có thu nhập thì phải hoạt động mát-xa kích dục cho khách hoặc bán dâm cho khách, H cũng là người tự thoả thuận giá mua bán dâm với khách, P không đứng ra thoả thuận với khách về việc mua bán dâm, H bán dâm cho khách cũng phải đi ra nhà nghỉ để bán dâm. Nếu H thoả thuận với khách giá một lần bán dâm là 400.000 đồng, khi H bán dâm xong sẽ phải đưa cho P số tiền 80.000 đồng, nếu H thoả thuận với khách giá một lần bán dâm là 300.000 đồng thì khi bán dâm xong, H sẽ phải đưa cho P số tiền 50.000 đồng trên mỗi lần bán dâm cho khách.
Khoảng 12 giờ ngày 07/6/2023, Nguyễn Minh T5, sinh năm 1975, nơi cư trú: Tổ E, ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước và Trần Văn T6, sinh năm 2000, nơi cư trú: Tổ D, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước đến quán cà phê “T” để uống nước và mua dâm. Sau đó T5 và T6 đi vào chòi lá trong cùng của quán “Trúc” ngồi, lúc này, P và T3 đang ngồi trông quán, còn H đang đi tắm; khi thấy khách vào uống nước nên P đi vào chòi lá hỏi T5 và T6 uống nước gì rồi P mang nước ra cho T5 và T6 uống, sau đó quay ra khu vực quầy nước ngồi trông quán. Lúc này, T3 đi vào chòi lá gặp T5 và T6 hỏi khách có nhu cầu gì, T5 và T6 trả lời có nhu cầu mua dâm, sau một lúc nói chuyện thỏa thuận thì T3 đồng ý bán dâm với giá 400.000 đồng/1 lần, tuy nhiên do cả T5 và T6 đều muốn mua dâm nên T3 chờ H tắm xong để đi cùng T3 bán dâm cho T5 và T6, đồng thời T3 thông báo cho P biết là có khách đến mua dâm. Trong lúc H đang tắm, P nói to để H nghe: “H ra đi khách”. Sau đó T3 và H nói với T6 và T5 đi đến nhà nghỉ G để thuê phòng mua bán dâm, khi đi T3 chở đi cùng một xe mô tô; còn T5 và T6 đi cùng một xe mô tô đến nhà nghỉ G. Tại nhà nghỉ G, T3 đưa T5 vào trong phòng số 3, H đưa T6 vào trong phòng số 4, H với T6 thoả thuận lại giá mua bán dâm là 300.000 đồng rồi cùng nhau vào phòng thực hiện hành vi mua bán dâm. Khi H đang bán dâm cho T6, còn T3 đang bán dâm cho T5 thì bị lực lượng Công an huyện H kiểm tra, phát hiện nên đã tiến hành lập biên bản vi phạm, vì vậy H chưa lấy được số tiền 300.000 đồng bán dâm cho T6, còn T3 chưa lấy được số tiền 400.000 đồng bán dâm cho T5, do đó H và T3 chưa đưa số tiền 50.000 đồng cho P như thoả thuận cho mỗi lần bán dâm. Quá trình làm việc thì Đặng Thị Diệu P, Phan Ánh T3, Đàm Thị H, Nguyễn Minh T5 và Trần Văn T6 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm như trên.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định: Khoảng thời gian cuối tháng 5/2023 (khoảng ngày 31/5/2023), Phan Ánh T3 còn thực hiện hành vi mua bán dâm với khách khi khách đến quán cà phê “Trúc” của P uống nước và có nhu cầu mua dâm, sau đó T3 đưa khách đến nhà nghỉ “G” bán dâm cho khách với giá 400.000 đồng, sau khi bán dâm xong thì T3 quay về quán đưa cho P số tiền 50.000 đồng/1 lần bán dâm cho khách.
Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Đặng Thị Diệu P về tội “Môi giới mại dâm” theo các điểm d, đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Vật chứng thu giữ của vụ án:
- Số tiền 900.000 đồng; 02 ruột bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu VIP; 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu A vita; 01 bao cao su nhãn hiệu A vita chưa qua sử dụng; 01 bao cao su nhãn hiệu OKAMEN chưa qua sử dụng; 02 bao cao su nhãn hiệu EROC chưa qua sử dụng.
Đề nghị xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 02 (hai) ruột bao cao su đã qua sử dụng; 02 (hai) vỏ bao cao su; 04 (bốn) bao cao su chưa qua sử dụng, đây là dụng cụ để T3 và H dùng để thực hiện hành vi mua bán dâm, không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền mặt 900.000 đồng là số tiền đã thu giữ của Nguyễn Minh T5 và Trần Văn T6: Đây là tiền T5 và T6 dùng vào việc mua dâm. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Diệu P phạm tội “Môi giới mại dâm”; Đề nghị áp dụng các điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Thị Diệu P mức hình phạt 30 tháng tù đến 36 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên đề nghị xử lý vật chứng như nội dung bản cáo trạng.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Đặng Thị Diệu P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bán dâm Phan Ánh T3 và Đàm Thị H và người làm chứng, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, các bản ảnh chụp lại hiện trường, vật chứng thu giữ được, nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Đặng Thị Diệu P bắt đầu kinh doanh quán cà phê – nước giải khát và đặt tên quán biển hiệu là “T” từ năm 2016 cho đến nay tại tổ E, khu phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Đến đầu tháng 01/2023, để có tăng thêm thu nhập nên P đã thuê nhân viên đến quán làm công việc phục vụ bưng bê nước và mua bán dâm cho khách; P sẽ để nhân viên thoả thuận việc mua bán dâm với khách, sau đó đưa khách đến nhà nghỉ thực hiện việc mua bán dâm, đồng thời P thỏa thuận với nhân viên khi bán dâm xong sẽ quay về và phải đưa cho P số tiền 50.000 đồng/1 lần bán dâm cho khách.
Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 07/6/2023, Nguyễn Minh T5 và Trần Văn T6 đến quán cà phê “Trúc” để mua dâm. Sau đó, H thỏa thuận giá bán dâm với T6 số tiền 300.000 đồng, còn T3 thỏa thuận giá bán dâm cho T5 số tiền 400.000 đồng rồi cùng nhau đi đến nhà nghỉ “Gia Phúc” tại khu phố C, thị trấn T, huyện H thuê 02 phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm bằng cách quan hệ tình dục. Khi T3 đang bán dâm cho T5, H đang bán dâm cho T6 thì bị lực lượng Công an huyện H kiểm tra, phát hiện nên tiến hành lập biên bản vi phạm.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định: Khoảng thời gian cuối tháng 5/2023 (khoảng ngày 31/5/2023), Phan Ánh T3 còn thực hiện hành vi mua bán dâm với khách một lần tại nhà nghỉ G với giá 400.000 đồng, sau khi bán dâm xong thì T3 quay về đưa cho P số tiền 50.000 đồng.
[3] Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Thị Diệu P thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm”, do đó Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Đặng Thị Diêu P2 về tội “Môi giới mại dâm” theo các điểm d, đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
[4] Xét hành vi của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chính sách phòng chống tệ nạn xã hội, trật tự an toàn xã hội, thuần phong mỹ tục của dân tộc và là tác nhân gây ra nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người lương thiện và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; thu lợi bất chính ít; hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn về kinh tế, không có chồng (không đăng ký kết hôn), hiện phải trực tiếp nuôi dưỡng 03 con nhỏ, trong đó con lớn nhất không có khả năng lao động và bố già yếu, ốm đau (bệnh tai biến), có xác
nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, bị cáo là lao động chính, duy nhất trong gia đình. Bị cáo phạm tội với tình tiết định khung là nhiều lần (02 lần) theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ- HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự thì trường hợp này không thể cho hưởng án treo nhưng xét thấy tình hình thực tế về hoàn cảnh của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo như đã nêu trên thì nếu buộc bị cáo hình phạt tù có thời hạn sẽ ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng con nhỏ và bố già ốm đau, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần thiết áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự để cho bị cáo hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo, có điều kiện lao động để chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 03 con nhỏ và chăm sóc, nuôi dưỡng bố già ốm đau, cùng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, Nhà nước ta đối với người phạm tội có ý thức hối lỗi và có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Trong thời gian tự rèn luyện, thử thách của án treo với sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, tạo điều kiện để bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức tù có thời hạn đối với bị cáo là chưa phù hợp.
[6] Đối với Phan Ánh T3, Đàm Thị H: Quá trình điều tra xác định T3 và H là nhân viên của quán cà phê “Trúc” do P2 làm chủ, T3 và H đã có hành vi bán dâm cho khách. Căn cứ khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, ngày 25/8/2023, Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54/QĐ-XPVPHC và 55/QĐ-XPVPHC xử phạt Phan Ánh T3, Đàm Thị H mỗi người số tiền 400.000 đồng về hành vi bán dâm.
Đối với Nguyễn Minh T5, Trần Văn T6: Quá trình điều tra xác định, T5 và T6 là những người mua dâm. Sau khi bị phạt hiện mua dâm, T5 và T6 không xuất trình được giấy tờ tùy thân, Nguyễn Minh T5 khai có nơi cư trú: tổ E, ấp C, xã T, huyện H và Trần Văn T6 khai có nơi cư trú tại: tổ D, ấp S, xã T, huyện H. Quá trình điều tra xác minh đến nay không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể của T5 và T6 nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với Hoàng Thị V, sinh năm 1979, HKTT: khu phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước là chủ nhà nghỉ G: Quá trình điều tra xác định, Chị V không biết việc T3 và H cùng T5 và T6 đến nhà nghỉ G thuê nhà nghỉ để mua bán dâm, chị V không có quan hệ gì với P2 và không liên quan đến hoạt động môi giới mại dâm của P2 tại quán cà phê T.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy: 02 (hai) ruột bao cao su đã qua sử dụng; 02 (hai) vỏ bao cao su; 04 (bốn) bao cao su chưa qua sử dụng, đây là dụng cụ để T3 và H dùng để thực hiện hành vi mua bán dâm, không có giá trị sử dụng.
- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước: số tiền mặt 900.000 đồng là số tiền đã thu giữ của Nguyễn Minh T5 và Trần Văn T6: Đây là tiền T5 và T6 dùng vào việc mua dâm.
[8] Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[9] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Tuy nhiên đề nghị mức hình phạt là tù có thời hạn là nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử cần điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Diệu P phạm tội “Môi giới mại dâm".
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng các điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Thị Diệu P 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách của án treo là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/11/2023).
Giao bị cáo Đặng Thị Diệu P cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu, tiêu hủy: 02 (hai) ruột bao cao su đã qua sử dụng; 02 (hai) vỏ bao cao su; 04 (bốn) bao cao su chưa qua sử dụng.
- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước: số tiền mặt 900.000 đồng là số tiền đã thu giữ của Nguyễn Minh T5 và Trần Văn T6: Đây là tiền T5 và T6 dùng vào việc mua dâm.
(Vật chứng đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0005937 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự và Thi hành án hình sự huyện H)
4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Thị Diệu P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Đình Học |
Bản án số 91/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự - môi giới mại dâm
- Số bản án: 91/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tù nhưng cho hưởng án treo
