Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày: 07-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Lài

Ông Trần Văn Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 31 tháng 7 và ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2024/HSST ngày 30/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/HSST-QĐ ngày 02/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2024/QĐ-HPT ngày 21/5/2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 41/2024/TB-TA ngày 05/6/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 52/2024/TB-TA ngày 11/7/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984, tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: Thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Nguyễn N (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1939; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; Có vợ: Trương Thị H, sinh năm 1995; Bị cáo có 02 người con, sinh năm 2019, 2023.

Tiền án, tiền sự: Bản án số 11/2022/HSST ngày 25/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 03 năm tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 05 năm.

Bị bắt ngày 02/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

2. Phan Đình L, sinh năm 1961 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Phan M (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1940; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu; H1 và tên vợ: Lê Thị Hồng L1, sinh năm 1968; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1997.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bắt giam ngày 02/11/2023; ngày 10/11/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn sang cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

3. Hoàng Hữu K, sinh năm 1989 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: Thôn V, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Hoàng Hữu T, sinh năm 1964 (đã chết ngày 03/5/2024); Họ và tên mẹ: Đoàn Thị Thu H2, sinh năm 1966; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con đầu; H1 và tên vợ: Lê Truyết V, sinh năm 1989; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bắt giam ngày 02/12/2023; ngày 16/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn sang cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

4. Trần Thị Phương H3, sinh năm 1985, tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; Họ và tên cha: Trần Quang B, sinh năm 1964; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị R, sinh năm 1964; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; Họ và tên chồng: Võ Nhật T1, sinh năm 1986; Bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bắt giam ngày 02/12/2023 đến ngày 16/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn sang cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

5. Lê Văn L2, sinh năm 1984 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Lê Văn H4, sinh năm 1933; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1945; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 5; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Ngọc L3, sinh năm 1987; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2012.

Tiền án: Bản án số 22/2017/HSST ngày 04/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tuyên phạt 09 năm tù (tổng hợp hình phạt) về tội “Trộm cắp tài sản”, “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (chấp hành xong hình phạt tháng 7/2023).

Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Bản án số 64/2007/HSST ngày 30/8/2007 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tuyên phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Bản án số 18A/2012/HSST ngày 13/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh BR-VT tuyên phạt 44 tháng tù (tổng hợp hình phạt) về tội trộm cắp tài sản.

Bắt giam ngày 02/12/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (bị cáo có mặt).

6. Phan Văn G, sinh năm 1957 tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn G, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Bán vé số; Họ và tên cha: Phan T3 (đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị C1 (đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út; H1 và tên vợ: Nguyễn Thị T4, sinh năm 1960; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1992.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bắt giam ngày 02/12/2023, đến ngày 16/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn sang cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại (bị cáo có mặt).

7. Nguyễn Thị H5, sinh năm 1988 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Văn D, sinh năm 1954; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1955; Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ 7; Họ và tên chồng: Phạm Cao T5, sinh năm 1988; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

8. Đặng T6, sinh năm 1945 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Đặng N1 (đã chết); Họ và tên mẹ: Lê Thị T7 (đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; H1 và tên vợ: Võ Thị T8, sinh năm 1963; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1994.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

9. Nguyễn Thanh T9, sinh năm 1976 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Nguyễn X (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Hoa P, sinh năm 1952; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Kim Đ2, sinh năm 1981; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không

Bắt giam ngày 02/12/2023; đến ngày 16/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn sang cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

10. Trương N2, sinh năm 1960 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Họ và tên cha: Trương Học (đã chết); Họ và tên mẹ: Đặng Thị C2 (đã chết); Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; Họ và tên vợ: Đồng Thị G1, sinh năm 1968; Bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không

Bắt giam ngày 02/12/2023; đến ngày 16/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn sang cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

11. Trần Thị M1, sinh năm 1979 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Trần Văn K1, sinh năm 1953; Họ và tên mẹ: Đặng Thị T10, sinh năm 1957; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; Họ và tên chồng: Đặng Văn C3, sinh năm 1981; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không

Bắt giam ngày 02/12/2023; đến ngày 16/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn sang cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

12. Phạm Thị D1, sinh năm 1971 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Họ và tên cha: Phạm Côn, sinh năm 1937; Họ và tên mẹ: Lê Thị D2, sinh năm 1938; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; Họ và tên chồng: Nguyễn Hữu C4, sinh năm 1968; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2006.

Tiền án, tiền sự: Không

Bắt giam ngày 02/12/2023; đến ngày 16/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn sang cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

13. Nguyễn Thị N3, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn K2 (đã chết); Họ và tên mẹ: Lê Thị P1 (đã chết); Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; Họ và tên chồng: Nguyễn Văn P2, sinh năm 1973; Bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2003.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bắt giam ngày 02/12/2023; đến ngày 16/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn sang cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

14. Nguyễn T11, sinh năm 1979 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn L4 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L5, sinh năm: 1940; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; Họ và tên vợ: Lê Thị Ngọc H6, sinh năm 1978; Bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2004.

Tiền án, tiền sự: Không

Bắt giam ngày 02/12/2023; đến ngày 16/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn sang cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

I. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm ổn định nên Phan Đình L, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Hữu K và một đối tượng (khác chưa rõ lai lịch) tổ chức đánh bạc bằng cách kết nối với nhau tạo thành đường dây thầu lô đề, nhận số lô, đề từ các đối tượng bán số đề cho người chơi (con bạc) rồi tổng hợp lại chuyển lên cho đại lý cấp trên để hưởng hoa hồng. Đôn, L, K đã tổ chức cho các con bạc Nguyễn Thanh T9, Phan Văn G, Trần Thị Phương H3, Phạm Thị D1, Nguyễn Thị H5, Trần Thị M1, Trương N2, Đặng T6, Nguyễn Thị N3, Nguyễn T11, Lê Văn L2 và một số con bạc khác tham gia đánh bạc dưới hình thức đặt cược lô đề được thua bằng tiền gồm: đặt cược số đầu, số đuôi, xỉu chủ, bao lô, đá...có tỷ lệ trúng thưởng gấp từ 70 đến 600 lần số tiền đặt cược dựa theo kết quả xổ số của các tỉnh Miền Nam gồm Tây Ninh, An Giang, Bình Thuận; kết quả xổ số các tỉnh Miền Trung gồm Bình Định, Quảng Trị, Quảng Bình và kết quả xổ số các tỉnh Miền Bắc. Đến ngày 02/11/2023, Phòng C5 Công an tỉnh B đã phát hiện ra đường dây lô đề nên đã phối hợp với các lực lượng thuộc Công an huyện C tiến hành bắt giữ, khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo đối với các đối tượng có tên trên về tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 và khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự để điều tra.

Quá trình điều tra xác định:

1. Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc bằng hình thức mua, bán số đề:

  1. Hành vi đánh bạc của Trần Thị M1:

    Ngày 02/11/2023, M1 sử dụng điện thoại di động số 0964.643.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0359.764.xxx của L mua số đề để đánh bạc với L, số tiền trên phơi đề là 7.892.000 đồng. L chiết khấu 2.324.000 đồng nên số tiền thực tế M1 trả cho L là 5.568.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định M1 trúng đề được 8.100.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền M1 sử dụng đánh bạc với L là 15.992.000 đồng. Sau khi cộng số tiền trúng đề và tiền được chiết khấu, trừ số tiền mua đề, M1 thắng bạc 2.532.000 đồng. M1 và L chưa thanh toán tiền với nhau nên M1 chưa thu lợi bất chính.

  2. Hành vi đánh bạc của Trương N2:

    Ngày 02/11/2023, N2 sử dụng điện thoại di động số 0336.886.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0359.764.xxx của L mua số đề để đánh bạc với L, số tiền trên phơi đề là 8.131.000 đồng, L chiết khấu 2.319.000 đồng nên số tiền thực tế Nên trả cho L là 5.812.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định Nên trúng đề được 9.450.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền N2 sử dụng đánh bạc với L là 17.581.000 đồng. Sau khi cộng số tiền trúng đề và tiền được chiết khấu, trừ số mua đề thì Nên thắng bạc 3.638.000 đồng. Nên và L chưa thanh toán tiền với nhau do đó Nên chưa thu lợi bất chính.

  3. Hành vi đánh bạc của Đặng T6:

    Ngày 02/11/2023, T6 sử dụng điện thoại di động số 0327.463.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0359.764.xxx của L mua số đề để đánh bạc với L, số tiền trên phơi đề là 10.570.000 đồng, L chiết khấu 3.170.000 đồng nên số tiền thực tế T6 trả cho L là 7.400.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định T6 trúng đề được 4.200.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T6 sử dụng đánh bạc với L là 14.770.000 đồng. Sau khi cộng số tiền trúng đề và tiền được chiết khấu, trừ số tiền mua đề thì T6 thua bạc 3.200.000 đồng. T6 và L chưa thanh toán tiền với nhau nên L chưa thu lợi bất chính.

  4. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị N3:

    Ngày 02/11/2023, N3 sử dụng điện thoại di động số 0332.005.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0359.764.xxx của L mua số đề để đánh bạc với L, số tiền trên phơi đề là 7.569.000 đồng, L chiết khấu 2.011.000 đồng nên số tiền thực tế N3 trả cho L là 5.558.000 đồng. N3 không trúng lô đề nào nên số tiền N3 sử dụng đánh bạc với L là 7.569.000 đồng. N3 và L chưa thanh toán tiền với nhau nên L chưa thu lợi bất chính.

  5. Hành vi đánh bạc của Lê Văn L2:

    Ngày 02/11/2023, L2 sử dụng điện thoại di động số 0363.070.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0359.764.xxx của L mua số đề để đánh bạc với L, số tiền trên phơi đề là 5.580.000 đồng, L chiết khấu 1.314.000 đồng nên số tiền thực tế L2 trả cho L là 4.266.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định L2 trúng đề được 6.300.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền L2 sử dụng đánh bạc với L là 11.880.000 đồng. Sau khi cộng số tiền trúng đề và tiền được chiết khấu, trừ số tiền mua đề thì L2 thắng bạc 2.034.000 đồng. L2 và L chưa thanh toán tiền với nhau nên L2 chưa thu lợi bất chính.

  6. Hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc của Phan Đình L:

    + Hành vi tổ chức đánh bạc:

    Ngày 02/11/2023, L bán số đề cho M1, N2, T6, L2, N3 với tổng số tiền là 39.742.000 đồng. Ngoài ra L còn bán số đề cho 01 đối tượng chưa rõ lai lịch sử dụng số điện thoại 0332.005.xxx (L lưu tên “Kiêu”) với số tiền trên phơi đề là 2.920.000 đồng và một người đàn ông chưa rõ lai lịch mua số đề trực tiếp của L với số tiền 120.000 đồng. Như vậy tổng số tiền L bán số đề là 42.782.000 đồng. Sau khi bán số đề, L tổng hợp các số lô đề đã bán, sử dụng điện thoại di động Nokia số 0379277632 nhắn tin chuyển một phần lô đề vào số điện thoại 0369.813.xxx của Nguyễn Văn Đ để hưởng tiền chênh lệch chiết khấu, số tiền trên phơi đề là 23.075.000 đồng, Đ chiết khấu 6.923.000 đồng nên số tiền thực tế L chuyển cho Đ là 16.152.000 đồng. Căn cứ thỏa thuận tỷ lệ chiết khấu giữa L với người mua số đề của L từ 10% đến 30% tùy hình thức mua số đề, và tỷ lệ Đôn chiết khấu cho L là 30% trên tổng số lô đề, thì L thu lợi được 112.000 đồng tiền chênh lệch chiết khấu. Do các bên chưa thanh toán tiền với nhau nên L chưa thu lợi bất chính.

    + Hành vi đánh bạc:

    Ngoài số lô đề L chuyển cho Đ, L giữ lại một phần lô đề để trực tiếp đối chiếu kết quả trúng đề, thắng thua bằng tiền với người mua đề, tổng số tiền trên phơi đề L giữ lại là 19.707.000 đồng. Sau khi chiết khấu cho người chơi đề thì số tiền thực tế L nhận là 13.800.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định các số đề L giữ lại trúng được 23.050.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền L sử dụng để đánh bạc là 42.757.000 đồng. Sau khi trừ chiết khấu và tiền trúng đề cho người chơi đề, L thua bạc 9.250.000 đồng.

  7. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thanh T9:

    Ngày 02/11/2023, T9 sử dụng điện thoại di động số 0339.129.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0369.813.xxx của Đ mua số đề để đánh bạc với Đ, số tiền trên phơi đề là 18.932.000 đồng, Đ chiết khấu 5.680.000 đồng nên số tiền thực tế T9 phải trả cho Đ là 13.252.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định T9 trúng đề được 3.500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T9 sử dụng để đánh bạc với Đ là 22.432.000 đồng. Sau khi cộng số tiền trúng đề và chiết khấu, trừ số tiền mua đề thì T9 thua bạc 9.752.000 đồng. T9 và Đ chưa thanh toán tiền với nhau nên Đ chưa thu lợi bất chính.

  8. Hành vi đánh bạc của Phan Văn G:

    Ngày 02/11/2023, G sử dụng điện thoại di động số 0366.621.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0369.813.xxx của Đ mua số đề để đánh bạc với Đ, số tiền trên phơi đề là 7.997.000 đồng, Đ chiết khấu 2.400.000 đồng nên số tiền thực tế G trả cho Đ là 5.597.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định Giải trúng đề được 3.600.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền G sử dụng để đánh bạc với Đ là 11.597.000 đồng. Sau khi cộng số tiền trúng đề và chiết khấu, trừ số tiền mua đề thì Giải thua bạc 1.997.000 đồng. G và Đ chưa thanh toán tiền với nhau do đó Đ chưa thu lợi bất chính.

  9. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị H5.

    Ngày 02/11/2023, H5 sử dụng điện thoại di động số 0336.409.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0369.813.xxx của Đ mua số đề để đánh bạc với Đ, số tiền trên phơi đề là 9.120.000 đồng. Đôn chiết khấu 2.736.000 đồng nên số tiền thực tế H5 trả cho Đ là 6.384.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định H5 trúng đề được 27.800.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền H5 sử dụng đánh bạc với Đ là 36.920.000 đồng. Sau khi cộng số tiền trúng đề và chiết khấu, trừ số tiền mua đề, H5 thắng bạc 21.416.000 đồng. H5 và Đ chưa thanh toán tiền với nhau nên H5 chưa thu lợi bất chính.

  10. Hành vi đánh bạc của Trần Thị Phương H3:

    Ngày 02/11/2023, H3 sử dụng điện thoại di động số 0869.875.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0369.813.xxx của Đ mua số đề để đánh bạc với Đ, số tiền tính trên phơi đề là 1.170.000 đồng, Đ chiết khấu 351.000 đồng, số tiền thực tế H3 phải trả cho Đ là 819.000 đồng. H3 không trúng số đề nào.

    Đôn gửi tin nhắn vào số điện thoại 0869.875.xxx của H3 để mua số đề nhằm đánh bạc với H3. Số tiền tính trên phơi đề là 15.290.000 đồng, H3 chiết khấu 4.587.000 đồng nên số tiền Đ trả thực tế cho H3 là 10.703.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định Đ trúng đề được 12.600.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền H3 sử dụng đánh bạc với Đ là 29.060.000 đồng. Sau khi cộng số tiền trúng đề và chiết khấu, trừ số tiền mua, bán đề với Đ, H3 thua bạc 2.716.000 đồng. H3 và Đ chưa thanh toán tiền với nhau nên Đ chưa thu lợi bất chính.

  11. Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của Nguyễn Văn Đ:

    + Hành vi tổ chức đánh bạc:

    Đôn bàn bạc, thỏa thuận với K và một người chưa rõ nhân thân lai lịch, sử dụng số điện thoại 0936.543.xxx (lưu là “P”, Đ khai tên P3 ở quận G, TP Hồ Chí Minh) về việc Đ tổ chức bán số đề cho các đối tượng khác, sau đó tổng hợp phơi đề, chuyển qua tin nhắn cho K, “P” để cùng chiếu kết quả thắng thua với người chơi đề theo thỏa thuận tỷ lệ góp tiền Đ góp 10%, K góp 90% và thỏa thuận góp tiền giữa Đ góp 20%, “P” góp 80%, tạo thành đường dây mua bán số đề với nhiều đối tượng tham gia.

    - Ngày 02/11/2023, ngoài việc bán số đề cho T9, G, H5, H3, L, Đ còn bán số đề do Phạm Thị D1 với số tiền trên phơi đề là 2.565.000 đồng và bán số đề cho 01 người sử dụng số điện thoại 0862.543.xxx (lưu tên “21”, Đ khai tên Phan Thị N4 ở xã N, huyện C) với số tiền trên phơi đề bán cho N4 là 27.331.000 đồng. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm Phan Thị N4 nhưng không có kết quả. Tổng số tiền Đ bán đề cho 07 đối tượng trong ngày 02/11/2023 là 90.190.000 đồng.

    + Hành vi đánh bạc:

    Sau khi bán số đề, Đ tổng hợp lại số lô đề và chuyển cho nhiều người để đánh bạc. Cụ thể:

    - Đ và Trần Thị Phương H3 gửi tin nhắn lô đề qua lại cho nhau để đánh bạc, với tổng số tiền đánh bạc với H3 là 29.060.000 đồng.

    - Đôn gửi cho K số lô đề với số tiền tính trên phơi đề là 31.243.000 đồng để cùng K đối chiếu kết quả thắng thua với người chơi đề. K và Đ chiết khấu 9.373.000 đồng nên số tiền còn lại là 21.870.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định người chơi đề trúng được 18.400.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Đ, K đánh bạc với người chơi đề là 49.643.000 đồng.

    - Đôn gửi cho “P” số lô đề với tiền tính trên phơi đề là 31.583.000 đồng để cùng “P” đối chiếu kết quả thắng thua với người chơi đề. Đôn và “P” chiết khấu 9.507.000 đồng nên số tiền thực tế còn lại là 22.076.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định người chơi đề trúng được 15.500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Đ và “P” đánh bạc với người chơi đề là 47.083.000 đồng.

    - Ngoài số lô đề gửi cho H3, K và “P”, Đ giữ lại một phần lô đề với số tiền trên phơi đề là 12.119.000 đồng, Đ trừ chiết khấu cho người mua đề nên số tiền thực tế còn lại 8.483.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định người chơi đề trúng được 1.250.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Đ đánh bạc với người chơi đề đối với số lô đề Đôn giữ lại là 13.369.000 đồng. Tổng số tiền Đ sử dụng để đánh bạc trong ngày 02/11/2023 là 139.155.000 đồng.

  12. Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của Hoàng Hữu K:

    + Hành vi tổ chức đánh bạc:

    Khoa thống nhất với Đ về việc Đ bán số đề cho người khác sau đó chuyển số đề qua tin nhắn cho K để cùng nhau đối chiếu kết quả thắng thua với người chơi đề, theo thỏa thuận tỷ lệ góp tiền giữa Đ và K là Đ góp 10%; Khoa góp 90%. Ngày 02/11/2023, Đ bán số đề cho nhiều người, sau đó tổng hợp phơi đề chuyển cho K với số tiền trên phơi đề là 31.243.000 đồng. Sau khi trừ tiền trúng đề, tiền chiết khấu, Đ và K thu lợi được 3.470.000 đồng, theo tỷ lệ góp tiền thì K được 3.123.000 đồng. K chưa thanh toán tiền với người chơi đề nên chưa thu lợi bất chính.

    + Hành vi đánh bạc:

    Ngày 02/11/2023, K nhận số lô đề do Đ chuyển qua tin nhắn SMS với số tiền là 31.243.000 đồng. K và Đ chiết khấu 9.373.000 đồng nên số tiền thực tế còn lại là 21.870.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định người chơi đề trúng được 18.400.000 đồng. Như vậy tổng số tiền K và Đ đánh bạc với người chơi đề trong ngày 02/11/2023 là 49.643.000 đồng.

  13. Hành vi đánh bạc của Phạm Thị D1 và Nguyễn T11:

    Ngày 02/11/2023, D1 sử dụng điện thoại di động số 0976.886.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0369.813.xxx của Đ để mua số đề với tổng số tiền trên phơi đề là 2.565.000 đồng, Đ chiết khấu 768.000 đồng nên số tiền thực tế D1 phải trả cho Đ là 1.796.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, xác định Diện trúng đề được 700.000 đồng. Sau khi cộng số tiền trúng đề và tiền được chiết khấu, trừ số tiền mua đề thì Diện thua bạc 1.097.000 đồng. D1 và Đ chưa thanh toán tiền với nhau.

    Ngoài ra, quá trình kiểm tra điện thoại của D1, Cơ quan điều tra phát hiện vào các ngày 04/10/2023, 05/10/2023 và 06/10/2023, D1 và Nguyễn T11 có hành vi mua bán số đề qua tin nhắn điện thoại, cụ thể:

    • - Ngày 04/10/2023, T11 sử dụng điện thoại di động số 0982.135.xxx nhắn tin mua số đề của Diện dựa trên kết quả xổ số các tỉnh: Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng và kết quả xổ số miền B. Số tiền trên phơi đề là 10.660.000 đồng. Diện chiết khấu 2.432.000 đồng nên số tiền thực tế T11 trả cho D1 là 8.228.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, T11 trúng đề được 500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T11 đánh bạc với Diện ngày 04/10/2023 là 11.160.000 đồng; sau khi trừ tiền tiền trúng đề cho T11 thì D1 thắng được 7.728.000 đồng.
    • - Ngày 05/10/2023, T11 nhắn tin mua số đề của Diện dựa trên kết quả xổ số các tỉnh Tây Ninh, An Giang và kết quả xổ số miền B. Số tiền trên phơi đề là 4.744.000 đồng. Diện chiết khấu 1.092.000 đồng nên số tiền thực tế T11 trả cho D1 là 3.652.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, T11 trúng đề được 2.500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T11 đánh bạc với Diện ngày 05/10/2023 là 7.244.000 đồng. Sau khi trừ tiền trúng đề, D1 thắng được 1.152.000 đồng,
    • - Ngày 06/10/2023, T11 nhắn tin mua số đề của Diện dựa trên kết quả xổ số các tỉnh Bình Dương, Vĩnh Long với số tiền trên phơi đề là 5.956.000 đồng. Diện chiết khấu 1.278.000 đồng nên số tiền thực tế T11 trả cho D1 là 4.678.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số trong ngày, T11 trúng đề được 3.500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T11 đánh bạc với Diện ngày 06/10/2023 là 9.456.000 đồng. Sau khi trừ tiền trúng đề, D1 thắng được 1.178.000 đồng. T11 và D1 đã thanh toán tiền đánh bạc với nhau. Do đó tổng số tiền D1 thu lợi bất chính từ việc đánh bạc với T11 là 10.058.000 đồng. Quá trình điều tra, ông Nguyễn Hữu C4 là chồng D1 đã tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính của D1 cho cơ quan điều tra.

2. Kết quả giám định:

Tại Kết luận giám định số 7470/KL-KTHS, 7696/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phân viện KHHS tại TP Hồ Chí Minh xác định: “Đã phục hồi, trích xuất dữ liệu trên điện thoại hiệu Iphone 7 Plus số IMEI 359175073161694 số điện thoại 0369.813.xxx; điện thoại hiệu Iphone 11 số IMEI: 357923213414537 số điện thoại 0976.886.xxx; điện thoại Nokia loại 6300, số sêri 358647014288977 số điện thoại 0359.764.xxx; điện thoại Nokia loại 6300, số sêri: 353508021790477 số điện thoại 0379.277.xxx; điện thoại Iphone Xsmax số IMEI: 353107105837153 số điện thoại 0336.886.xxx; điện thoại Nokia 110 4G Type điện thoại số 0366.621.xxx; điện thoại Nokia loại 3310 số điện thoại 0909.482.xxx và điện thoại Nokia loại 110 số điện thoại 0982.135.xxx (kèm theo file tài liệu trích xuất được lưu trong thiết bị lưu trữ)”.

3. Vật chứng:

  • - 01 điện thoại Iphone 7 Plus số IMEI: 359175073161694 số điện thoại 0369.813.xxx của Nguyễn Văn Đ.
  • - 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng số IMEI: 357923213414537 số điện thoại 0976.886.xxx của Phạm Thị D1.
  • - 01 điện thoại Nokia loại 6300, số sêri: 358647014288977, màu vàng hồng, số điện thoại 0359.764.xxx của Phan Đình L.
  • - 01 điện thoại Nokia loại 6300, số sêri: 353508021790477, màu đen – bạc, số điện thoại 0379.277.xxx của Phan Đình L.
  • - 01 điện thoại Iphone Xsmax màu trắng số IMEI: 353107105837153, số điện thoại 0336.886.xxx của Trương Nên.
  • - 01 điện thoại N5 110 4G Type, số điện thoại 0366.621.xxx của Phan Văn G.
  • - 01 điện thoại Nokia loại 3310, màu xanh, số điện thoại 0909.482.xxx của Hoàng Hữu K.
  • - 01 điện thoại Nokia loại 110, màu đen, số điện thoại 0982.135.xxx của Nguyễn Thiện .
  • - 808.000 đồng tạm giữ của Phan Đình L.
  • - 10.058.000 đồng do ông Nguyễn Hữu C4, chồng của Phạm Thị D1 giao nộp.

Tất cả vật chứng trên đã chuyển đến Cục Thi hành án tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Các vấn đề khác có liên quan:

- Đối với bị cáo Phạm Thị D1: Ngày 02/11/2023, bán số đề cho 04 người không rõ nhân thân lai lịch với số tiền 2.565.000đ (hai triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng), sau đó chuyển số đề cho Nguyễn Văn Đ để hưởng chênh lệch chiết khấu. Số tiền thực tế D1 đã thu của 04 người mua đề là 1.990.000đ (một triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng). Hành vi này của D1 không cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, hành vi này của D1 đã vi phạm Khoản 1 Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính Phủ nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã chuyển hồ sơ đến Phòng CSHS Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D1.

- Đối với đối tượng “P”, “N4”, “Kiêu” và các đối tượng khác (chưa rõ lai lịch) tham gia tổ chức đánh bạc, đánh bạc cùng với các bị cáo trong vụ án. Do thời hạn điều tra đã hết nhưng chưa làm rõ được nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Quyết định tách vụ án hình sự số 01A/QĐ-CSHS-Đ3 ngày 02/01/2024 để tiếp tục truy xét, khi nào đủ cơ sở xử lý sau theo quy định.

II. Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSBRVT-P2 ngày 26/01/2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn Đ về các tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
  • - Các bị cáo Phan Đình L, Hoàng Hữu K về tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 và điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
  • - Các bị cáo Nguyễn Thanh T9, Phan Văn G, Trần Thị Phương H3, Phạm Thị D1, Nguyễn Thị H5, Trần Thị M1, Trương N2, Đặng T6, Nguyễn Thị N3, Nguyễn T11, Lê Văn L2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, căn cứ Điều 319 Bộ luật Tố tụng hình sự, Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Hữu K về tội “Đánh bạc”.

III. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

a) Về tội danh:

  • - Đề nghị tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Phan Đình L phạm các tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”.
  • - Đề nghị tuyên bố bị cáo Hoàng Hữu K phạm tội “Tổ chức Đánh bạc”.
  • - Đề nghị tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh T9, Phan Văn G, Trần Thị Phương H3, Phạm Thị D1, Nguyễn Thị H5, Trần Thị M1, Trương N2, Đặng T6, Nguyễn Thị N3, Nguyễn T11, Lê Văn L2 phạm tội “Đánh bạc”.

b) Về hình phạt đề xuất áp dụng:

- Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ:

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 321; điểm c khoản 1 Điều 322; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 BLHS. Đề nghị xử phạt từ 04 - 06 năm tù về tội “Đánh bạc”; 02 - 03 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc".

Tổng hợp hình phạt theo Điều 55 BLHS cho cả hai tội từ 06 - 09 năm tù.

Áp dụng Điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt với Bản án số 11/2022/HSST ngày 25/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 03 năm tù.

- Đối với bị cáo Phan Đình L.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 - 02 năm tù về tội “Đánh bạc”; 02 - 03 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Tổng hợp hình phạt theo Điều 55 BLHS cho cả hai tội từ 03 - 05 năm tù.

- Đối với bị cáo Hoàng Hữu K:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 BLHS. Đề nghị xử phạt từ 02 - 03 năm tù.

- Đối với bị cáo Lê Văn L2:

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 BLHS. Đề nghị xử phạt từ 02 - 03 năm tù.

- Đối với các bị cáo Phạm Thị D1 và Nguyễn T11:

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo D1 từ 01 - 02 năm tù.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo T11 từ 01 - 02 năm tù.

- Đối với các bị cáo Nguyễn Thanh T9, Phan Văn G, Trần Thị Phương H3, Nguyễn Thị H5, Trần Thị M1, Trương N2, Đặng T6, Nguyễn Thị N3:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i (điểm n đối với bị cáo Nguyễn Thị H5; điểm o đối với bị cáo Đặng T6) khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 50 BLHS. Đề nghị xử phạt tiền mỗi bị cáo từ từ 40 triệu đến 50 triệu đồng.

c) Về trách nhiệm dân sự: Không có.

d) Về vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước tiền và tài sản các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, gồm:

  • - 01 điện thoại Iphone 7 Plus số IMEI: 359175073161694 số điện thoại 0369.813.xxx của Nguyễn Văn Đ.
  • - 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng số IMEI: 357923213414537 số điện thoại 0976.886.xxx của Phạm Thị D1.
  • - 01 điện thoại Nokia loại 6300, số sêri: 358647014288977, màu vàng hồng, số điện thoại 0359.764.xxx của Phan Đình L.
  • - 01 điện thoại Nokia loại 6300, số sêri: 353508021790477, màu đen – bạc, số điện thoại 0379.277.xxx của Phan Đình L.
  • - 01 điện thoại Iphone Xsmax màu trắng số IMEI: 353107105837153, số điện thoại 0336.886.xxx của Trương Nên.
  • - 01 điện thoại N5 110 4G Type, số điện thoại 0366.621.xxx của Phan Văn G.
  • - 01 điện thoại Nokia loại 3310, màu xanh, số điện thoại 0909.482.xxx của Hoàng Hữu K.
  • - 01 điện thoại Nokia loại 110, màu đen, số điện thoại 0982.135.xxx của Nguyễn Thiện .
  • - 808.000 đồng tạm giữ của Phan Đình L và 10.058.000 đồng do ông Nguyễn Hữu C4, chồng của Phạm Thị D1 giao nộp (là tiền thu lợi bất chính từ việc Đánh bạc của các bị cáo).

IV. Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Phan Đình L,Hoàng Hữu K,Nguyễn Thanh T9, Phan Văn G, Trần Thị Phương H3, Phạm Thị D1, Nguyễn Thị H5, Trần Thị M1, Trương N2, Đặng T6, Nguyễn Thị N3, Nguyễn T11, Lê Văn L2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không trình bày bào chữa tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn, hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo;

  1. Về tố tụng:

    Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

    Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

    2.1. Nguyễn Văn Đ bàn bạc với Hoàng Hữu K, đối tượng P (không rõ lai lịch) về việc Đ bán số đề cho người khác sau đó chuyển cho K và “P” để cùng soi chiếu kết quả thắng thua với người chơi đề tạo thành đường dây mua bán số đề.

    Ngày 02/11/2023 Đ đã bán số đề cho T9, G, H5, H3, L, D1 và Phan Thị N4 tổng với số tiền là 90.190.000 đồng.

    Sau khi bán số đề cho nhiều người, Đ chuyển một phần số đề cho K, chuyển một phần cho “P”; một phần để đánh bạc trực tiếp với Trần Thị Phương H3; giữ lại một phần để tự đối chiếu kết quả thắng thua với người chơi đề. Tổng số tiền Đ dùng để đánh bạc là 139.155.000 đồng.

    2.2. Cùng ngày Phan Đình L bán số đề cho M1, N2, T6, L2, N3 và 01 đối tượng chưa rõ lai lịch với tổng số tiền là 42.782.000 đồng.

    Sau đó L chuyển một phần lô đề với số tiền 23.075.000 đồng cho Đ; L giữ lại số tiền 19.709.000 đồng để trực tiếp đối đánh bạc thắng thua với người đánh đề, số tiền người chơi trúng đề trong các số đề L giữ lại là 23.050.000 đồng. Tổng số tiền L dùng để đánh bạc là 42.757.000 đồng.

    Như vậy hành vi của Đ đã phạm tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 và tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; hành vi của L đã phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 và tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

    2.3. Hoàng Hữu K bàn bạc, thống nhất với Nguyễn Văn Đ về việc Đ bán số đề cho người khác, rồi chuyển số đề cho K để cùng K ôm đề, soi chiếu kết quả thắng thua với người chơi đề, tạo thành đường dây mua bán số đề với nhiều đối tượng tham gia, Đ đã chuyển cho K số lô đề 31.243.000 đồng. Ngoài việc K nhận số đề 31.243.000đ từ Đôn thì K không giao cho ai, chỉ thanh toán giải quyết với Đ khi có kết quả; K cũng không trực tiếp thanh toán cho những người đánh đề; do đó Khoa chịu trách nhiệm đối với hành vi nhận đề từ Đ. Tại phiên toà đại diện VKS rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Hữu K về tội “Đánh bạc” là có căn cứ. Hành vi của K đã đủ căn cứ cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

    2.4. Cùng ngày Trần Thị M1 mua số đề để đánh bạc với L, số tiền trên phơi đề là 7.892.000 đồng; M1 trúng đề được 8.100.000 đồng. Tổng số tiền M1 sử dụng đánh bạc với L là 15.992.000 đồng.

    Trương Nên mua số đề để đánh bạc với L, số tiền trên phơi đề là 8.131.000 đồng; Nên trúng đề được 9.450.000 đồng. Tổng số tiền N2 sử dụng đánh bạc với L là 17.581.000 đồng.

    Đặng T6 mua số đề để đánh bạc với L, số tiền trên phơi đề là 10.570.000 đồng; T6 trúng đề được 4.200.000 đồng. Tổng số tiền T6 sử dụng đánh bạc với L là 14.950.000 đồng.

    Nguyễn Thị N3 mua số đề để đánh bạc với L, số tiền trên phơi đề là 7.569.000 đồng, N3 không trúng lô đề nên số tiền N3 sử dụng đánh bạc với L là 7.569.000 đồng.

    Lê Văn L2 mua số đề để đánh bạc với L, số tiền trên phơi đề là 5.580.000 đồng, L2 trúng đề được 6.300.000 đồng. Tổng số tiền L2 sử dụng đánh bạc với L là 11.880.000 đồng.

    Nguyễn Thanh T9 mua số đề để đánh bạc với Đ, số tiền trên phơi đề là 18.932.000 đồng, T9 trúng đề được 3.500.000 đồng. Tổng số tiền T9 sử dụng để đánh bạc với Đ là 22.432.000 đồng.

    Phan Văn G mua số đề để đánh bạc với Đ, số tiền trên phơi đề là 7.997.000 đồng, G trúng đề được 3.600.000 đồng. Tổng số tiền G sử dụng để đánh bạc với Đ là 11.597.000 đồng.

    Nguyễn Thị H5 mua số đề để đánh bạc với Đ, số tiền trên phơi đề là 9.120.000 đồng. Hằng trúng đề được 27.800.000 đồng. Tổng số tiền H5 sử dụng đánh bạc với Đ là 36.920.000 đồng.

    Trần Thị Phương H3 mua số đề để đánh bạc với Đ, số tiền tính trên phơi đề là 1.170.000 đồng. H3 không trúng; ngoài ra Đ mua số đề đánh bạc với H3 số tiền tính trên phơi đề là 15.290.000 đồng, Đ trúng đề được 12.600.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền H3 sử dụng đánh bạc với Đ là 29.060.000 đồng.

    Cùng ngày 02/11/2023 Phạm Thị D1 mua số đề để đánh bạc với Đ, số tiền tính trên phơi đề là 2.565.000 đồng; Diện trúng đề được 700.000 đồng. Tổng số tiền D1 sử dụng đánh bạc với Đ là 3.265.000 đồng

    Phạm Thị Diện và Nguyễn T11 có hành vi đánh đề với nhau, tổng số tiền thắng thua là 27.860.000 đồng.

    Như vậy có căn cứ xác định hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh T9, Phan Văn G, Trần Thị Phương H3, Phạm Thị D1, Nguyễn Thị H5, Trần Thị M1, Trương N2, Đặng T6, Nguyễn Thị N3, Nguyễn T11, Lê Văn L2 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

  3. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

    Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý của nhà nước, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo là người trưởng thành nhận thức được hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì muốn thu lợi bất chính mà cố ý vi phạm pháp luật. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Các bị cáo cùng nhau cố ý thực hiện tội phạm tổ chức đánh bạc, đánh bạc nhưng không có sự câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.

  4. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    [4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Lê Văn L2 phạm tội có 01 tình tiết tăng nặng thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    [4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Tất cả các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Các bị cáo Nguyễn Thanh T9, Phan Văn G, Trần Thị Phương H3, Nguyễn Thị H5, Trần Thị M1, Trương N2, Đặng T6, Nguyễn Thị N3, Phạm Thị D1,Nguyễn T11 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo H5 sinh con nhỏ vào tháng 5/2024 nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo T6 đã 79 tuổi nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Các bị cáo Phạm Thị D1 đã nộp lại tiền thu lợi bất chính; bị cáo K thì bố mới mất (5/2024), vợ mới sinh con (2024); các bị cáo đều là người lao động, hoàn cảnh khó khăn, các bị cáo L, G, N2 là người cao tuổi; nhiều bị cáo là lao động chính trong gia đình; các bị cáo Trần Thị M1, Nguyễn T11, Trương N2, Nguyễn Thanh T9, Đặng T6, Phạm Thị D1, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Hữu K, Phan Văn G, Phan Đình L, Lê Văn L2, Nguyễn Thị H5, Nguyễn Thị N3 được chính quyền địa phương xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, có nhiều bị cáo có bệnh án nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Về hình phạt:

    - Bị cáo Đ trong thời gian thử thách của Bản án số 11/2022/HSST ngày 25/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 03 năm tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án; bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội mới nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án nêu trên là 03 năm tù theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo đang chấp hành án mà còn phạm tội mới nên cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; bị cáo phạm hai tội nên áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

    Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của hai bản án đối với bị cáo.

    - Bị cáo L mặc dù chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo phạm hai tội nên cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

    - Bị cáo L2 có nhân thân xấu đã chấp hành xong hai bản án về tội trộm cắp tài sản và 01 tiền án về các tội trộm cắp tài sản, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nay lại tiếp tục phạm tội nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

    - Bị cáo K chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn bố mất ngày 03/5/2024, vợ sinh con nhỏ ngày 20/4/2024; bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi ba con nhỏ; đối chiếu quy định về điều kiện được hưởng án treo thì bị cáo có đủ điều kiện nên không cần thiết cách ly bị cáo.

    - Các bị cáo Nguyễn Thanh T9, Phan Văn G, Trần Thị Phương H3, Nguyễn Thị H5, Trần Thị M1, Trương N2, Đặng T6, Nguyễn Thị N3, Phạm Thị D1, Nguyễn T11 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt; hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo T6 là người già trên 70 tuổi; bị cáo H5 sinh con nhỏ; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ sức răn đe.

  5. Về xử lý vật chứng:

    - 01 điện thoại Iphone 7 Plus số IMEI: 359175073161694 số điện thoại 0369.813.xxx của Nguyễn Văn Đ; 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng số IMEI: 357923213414537 số điện thoại 0976.886.xxx của Phạm Thị D1; 01 điện thoại Nokia loại 6300, số sêri: 358647014288977, màu vàng hồng, số điện thoại 0359.764.xxx của Phan Đình L; 01 điện thoại Nokia loại 6300, số sêri: 353508021790477, màu đen – bạc, số điện thoại 0379.277.xxx của Phan Đình L.; 01 điện thoại Iphone Xsmax màu trắng số IMEI: 353107105837153, số điện thoại 0336.886.xxx của Trương Nên; 01 điện thoại Nokia 110 4G Type, số điện thoại 0366.621.xxx của Phan Văn G; 01 điện thoại Nokia loại 3310, màu xanh, số điện thoại 0909.482.xxx của Hoàng Hữu K; 01 điện thoại Nokia loại 110, màu đen, số điện thoại 0982.135.xxx của Nguyễn T11: Đây là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm, liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

    - Tạm giữ 808.000 đồng của bị cáo Phan Đình L không liên quan trong vụ án để đảm bảo thi hành án.

    - Số tiền 10.058.000 đồng do gia đình bị cáo Phạm Thị D1 giao nộp là tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

  6. Biện pháp tư pháp: Các bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  7. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Phan Đình L phạm các tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”; Hoàng Hữu K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Thanh T9, Phan Văn G, Trần Thị Phương H3, Phạm Thị D1, Nguyễn Thị H5, Trần Thị M1, Trương N2, Đặng T6, Nguyễn Thị N3, Nguyễn T11, Lê Văn L2 phạm tội “Đánh bạc”.

1.1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Nguyễn Văn Đ 04 (bốn) năm tù, về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự; Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2023.

Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 03 (ba) năm tù của Bản án số 11/2022/HSST ngày 25/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt của hai bản án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2023.

1.2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Phan Đình L 02 (hai) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Phan Đình L 01 (một) năm tù, về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự; Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Phan Đình L phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/11/2023 đến ngày 10/11/2023.

1.3 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Lê Văn L2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.

1.4. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Hoàng Hữu K 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Hoàng Hữu K cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên quy định tại Điều 87 Luật thi hành án hình sự 2019 thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự.

1.5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Xử phạt:

  • - Bị cáo Trần Thị Phương H3 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng).
  • - Bị cáo Nguyễn Thanh T9 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng).
  • - Bị cáo Đặng T6 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng).
  • - Bị cáo Phạm Thị D1 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng).
  • - Bị cáo Trần Thị M1 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng).
  • - Bị cáo Nguyễn Thị N3 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng).
  • - Bị cáo Trương N2 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng).
  • - Bị cáo Phan Văn G 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng).

1.6. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị H5 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

1.7. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: bị cáo Đặng T6 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 7 Plus số IMEI: 359175073161694 số điện thoại 0369.813.xxx; 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng số IMEI: 357923213414537 số điện thoại 0976.886.xxx; 01 điện thoại Nokia loại 6300, số sêri: 358647014288977, màu vàng hồng, số điện thoại 0359.764.xxx; 01 điện thoại Nokia loại 6300, số sêri: 353508021790477, màu đen – bạc, số điện thoại 0379.277.xxx; 01 điện thoại Iphone Xsmax màu trắng số IMEI: 353107105837153, số điện thoại 0336.886.xxx; 01 điện thoại Nokia 110 4G Type, số điện thoại 0366.621.xxx; 01 điện thoại Nokia loại 3310, màu xanh, số điện thoại 0909.482.xxx; 01 điện thoại Nokia loại 110, màu đen, số điện thoại 0982.135.xxx và số tiền 10.058.000 đồng (mười triệu, không trăm năm mươi tám nghìn đồng).

Tạm giữ số tiền 808.000 đồng (tám trăm lẻ tám nghìn đồng) của bị cáo Phan Đình L để đảm bảo thi hành án.

(Các vật chứng trên Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 36/BB-CTHADS ngày 30/01/2024 và Biên lai thu tiền số 0000411 ngày 31/01/2024).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Phan Đình L, Lê Văn L2, Hoàng Hữu K, Nguyễn Thanh T9, Phan Văn G, Trần Thị Phương H3, Phạm Thị D1, Nguyễn Thị H5, Trần Thị M1, Trương N2, Đặng T6, Nguyễn Thị N3, Nguyễn T11, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - THAHS tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ Tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger