TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2024/HS - PT.
Ngày: 06 - 6 - 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Vinh.
Bà Trần Thị Hà.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 06/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLPT-HS ngày 18/3/2024 đối với bị cáo Nông Thị H và các đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang;
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Nông Thị H, sinh năm 1987; tên gọi khác: Không;
Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nông Văn Đ, sinh năm 1958 (đã chết);
Con bà Vũ Thị K, sinh năm 1962;
Chồng là Đào Cao S, sinh năm 1984 (đã ly hôn);
Có 02 con; L sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2018;
Tiền án, tiền sự: Không có;
Nhân thân: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 150/QĐ/UBND, ngày 27/10/2020, của UBND xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang; xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. H đã chấp hành xong quyết định nộp phạt ngày 27/10/2020.
Bị cáo bị bắt quả tang, không bị tạm giữ, tạm giam; được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại ( Có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Lý Văn P, sinh năm 1985; tên gọi khác: Không;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, chính quyền, đoàn thể: là Đảng viên Đ4, bị khai trừ đảng từ ngày 02/02/2024;
Con ông Lý Đức M, sinh năm 1960;
Con bà Phùn Thị T1, sinh năm 1962;
Vợ là Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1986;
Có 02 con; L sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2013;
Tiền án, tiền sự: Không có;
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 33/QĐ-XPHC, ngày 08/6/2022 của Công an xã T, huyện S xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Ngày 16/6/2022, P đã chấp hành xong quyết định nộp tiền.
Bị cáo đầu thú, không bị tạm giữ, tạm giam; được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại ( Có mặt tại phiên tòa).
Trong vụ án còn có 06 bị cáo khác và 02 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 9/2023, Phạm Thị X và một số người khác có rủ nhau về việc đi đánh bạc tại vườn keo ở xã T, huyện S nên tối ngày 20/9/2023, X sử dụng điện thoại di động của mình gọi điện thoại rủ Nông Thị H sáng hôm sau đi đánh bạc ở xã T, huyện S thì H đồng ý. Buổi sáng ngày 21/9/2023, X điều khiển xe ô tô của mình nhãn hiệu HUYNDAI, loại Accent, BKS 98A-606.56 đi đến nhà Lý Văn P rồi chở P đi đến thị trấn T, huyện S để xem vườn keo. Tại đây, X nhắn tin qua Zalo cho H với nội dung “11 giờ bắt đầu” (tức là 11 giờ đánh bạc), thì H nói đang ở nhà và đồng ý đi xuống xã T đánh bạc. Sau đó X gọi điện thoại rủ Lục Văn Đ2 đi đánh bạc thì Đ2 đồng ý. Đ2 nhắn tin cho Hoàng Văn L1 và gọi điện thoại cho Trịnh Văn B để rủ L1 và B đi đến bờ sông thuộc thôn Đ, xã T để đánh bạc, L1, B đều đồng ý. Ngoài ra X còn nhắn tin cho Vi Văn N, rủ N đi đánh bạc thì N đồng ý. N rủ thêm La Văn L2 đi đánh bạc thì L2 đồng ý.
Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 21/9/2023, H điều khiển 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, Lead, màu sơn vàng nâu, biển kiểm soát 98L1-166.16 đi đến một vườn keo ở thôn Đ, xã T chờ mọi người đến đánh bạc, tại đây H nhìn thấy dưới gốc cây có 01 tấm bạt hình vuông có màu đỏ, xanh, trắng đang gấp thì H mở ra và nằm lên trên để ngủ. Sau đó lần lượt Trịnh Văn B, Hoàng Văn L1, Phạm Thị X, Lý Văn P, Vi Văn N, La Văn L2 và Lục Văn Đ2 đi đến vị trí vườn keo H nằm. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi mọi người đến đủ, do không có bài để đánh bạc nên H đưa cho Hoàng Văn L1 số tiền 500.000 đồng để L1 đi mua bài và nước uống cho mọi người đánh bạc. L1 cầm tiền và điều khiển 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu sơn đỏ, đen, xám, biển kiểm soát 98L1-021.48 đi từ vườn keo đi đến cửa hàng tạp hoá của chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1984 ở thôn Đ, xã T mua 02 bộ bài lơ khơ mới và một số chai nước uống, sau đó L1 đi ra chỗ mọi người đang chờ. Khi quay lại vườn keo, L1 đưa lại cho H số tiền 370.000đ tiền mua bài, nước uống còn thừa, sau đó cả 08 người đi đến vị trí vườn keo của gia đình anh Trần Văn T2, sinh năm 1980 ở thôn Đ, xã T ở cạnh bờ sông. Khi đi L1 cầm theo 02 bộ bài và các chai nước (đựng trong túi bóng), còn N gấp bạt mà H nằm trước đó. Khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, các đối tượng đi đến vườn keo của gia đình anh Trần Văn T2 thì N, B, L2, Đông rải bạt ra nền đất sau đó cả 08 người cùng ngồi xuống đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền. Các đối tượng đánh bạc được khoảng 05 ván thì X, N, L2, Đ2, B, L1, P mỗi người đưa cho Nông Thị H 20.000 đồng, tổng là 140.000 đồng để trả tiền mà H đã bỏ ra mua bài và nước cho mọi người cùng sử dụng. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì Lục Văn Đ2 nghỉ không tham gia đánh bạc nữa và đi về nhà đưa con đi học, còn Nông Thị H cũng nghỉ không chơi nữa và nằm trên bạt ngủ. Các đối tượng còn lại đánh bạc đến 13 giờ 55 phút cùng ngày thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S bắt quả tang, bắt giữ được Phạm Thị X, Trịnh Văn B và Nông Thị H, những người còn lại thì bỏ chạy khỏi hiện trường. Tang vật thu giữ gồm:
Thu giữ tại vị trí các đối tượng đánh bạc số tiền 6.470.000đ; 01 bộ bài tú lơ khơ 32 lá; 01 bộ bài tú lơ khơ còn mới nguyên; 01 chiếc bạt hình vuông màu đỏ, xanh, trắng. Ngoài ra còn thu giữ 03 chiếc điện thoại; 04 xe mô tô các loại; 01 xe ô tô biển kiểm soát 98A-606.56.
Nông Thị Hiền giao nộp 01 điện thoại OPPO A55, màu xanh và số tiền 4.777.000đ; Trịnh Văn B giao nộp 01 điện thoại NOKIA 1280 màu đen và số tiền 3.500.000đ; Phạm Thị X giao nộp 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh và số tiền 1.070.000₫ .
Trong các ngày 24, 25, 27/9/2023, lần lượt Hoàng Văn L1, Vi Văn N, La Văn L2, Lý Văn P đến Cơ quan CSĐT Công an huyện S để đầu thú về hành vi đánh bạc của bản thân. Ngày 26/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lục Văn Đ2 về hành vi đánh bạc.
Tại Cơ quan điều tra, Vi Văn N, La Văn L2, Lục Văn Đ2, Hoàng Văn L1, Phạm Thị X, Trịnh Văn B, Lý Văn P, Nông Thị H đều khai nhận ngày 21/9/2023, các bị cáo cùng nhau tham gia đánh bạc như nội dung nêu trên.
Các bị cáo đánh bạc bằng hình thức đánh L3, cách chơi như sau: Các đối tượng sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá để đánh bạc. Trước khi bắt đầu chia bài, tất cả người chơi bạc phải bỏ ra số tiền bằng nhau (quy định 20.000 đồng một ván gọi là tiền gà). Khi bắt đầu ván bài, mỗi người chơi sẽ được chia 3 lá bài (người thắng ở ván trước là người chia bài ở ván sau) và sau khi xem cần phải giữ bí mật, không được cho bất kì ai biết. Sau đó người chơi sẽ có các lựa chọn sau: Úp bài, tức là dừng chơi nếu cảm thấy bài của bản thân bé, nếu úp thì người chơi sẽ bị mất đi số tiền gà ban đầu và kết thúc tại ván bài đó; theo hoặc tố, tức là đặt tiền cược bằng hoặc cao hơn số tiền của người ở cửa trước đặt (ngược chiều kim đồng hồ và mỗi người chỉ được theo 01 lần); tất tay, tức là đặt cược toàn bộ số tiền của mình đang có nếu cảm thấy bài của mình lớn và cơ hội thắng cao. Sau khi người chơi bạc đặt tiền cược, người nào có bài (3 lá) cao nhất sẽ là người thắng cuộc và thắng được tiền của những người chơi ván đó. Xác định bài ai cao hơn được tính theo thứ tự từ lớn đến bé là S1, L3, Ảnh, Đ3, cụ thể: Sáp, tức là bộ ba lá giống nhau, nếu hai người cùng có sáp thì người nào có sáp cao hơn sẽ thắng, thứ tự các bài từ bé đến lớn là: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A; Liêng, tức là bộ bài có ba lá bài liên tiếp nhau, liêng cao nhất là Q, K, A và thấp nhất là A, 2, 3, khi hai đối thủ đều có liêng thì ai có liêng cao hơn sẽ thắng, khi có hai liêng bằng nhau sẽ so sánh chất của bài, chất cao nhất theo thứ tự từ lớn đến bé là rô, cơ, tép, bích; Ảnh, tức là khi cả 3 quân bài đang giữ đều là J, Q, K, khi hai người đều có ảnh thì so sánh đến quân cao nhất của bài theo thứ tự từ thấp lên cao là J, Q, K, nếu cùng ảnh thì so sánh chất, chất cao nhất theo thứ tự từ lớn đến bé là rô, cơ, tép, bích; Đ3, tức là khi bài không có các dạng trên thì bắt đầu tính điểm, quân A tính là 01 điểm, từ quân 2 đến 9 tính theo thứ tự ghi trên mỗi quân bài, từ bộ 10 đến bộ K1 được tính là 0 điểm. Khi cộng điểm lấy số của hàng đơn vị tính là điểm, nếu cộng được 9 điểm là to nhất, 10 hoặc 20 điểm là bé nhất, khi hai người bằng điểm thì tính theo chất, chất cao nhất theo thứ tự từ lớn đến bé là rô, cơ, tép, bích, nếu cùng chất thì so sánh quân.
Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận về hành vi đánh bạc và số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc của mình như sau:
Phạm Thị X khai: X là người rủ H, Đ2, N đi đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc X có 1.300.000 đồng, trong đó có 1.000.000 đồng do Lục Văn Đ2 trả nợ, X bỏ ra 300.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, X đang thua 230.000 đồng, còn lại 70.000 đồng thì đang để trên người. X giao nộp cho Cơ quan Công an số tiền 1.070.000 đồng, trong đó có 70.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Nông Thị H khai: H là người bỏ tiền ra cho L1 đi mua bài và nước để đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc H có 5.017.000 đồng, H bỏ ra 510.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc H bị thua 240.000 đồng, còn 270.000 đồng nên H không chơi nữa mà nằm tại bạt ngủ. Khi bị bắt H giao nộp 4.777.000 đồng, trong đó có 270.000 đồng tiền sử dụng để đánh bạc, còn 4.507.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Hoàng Văn L1 khai: L1 là người rủ Đ2 đi đánh bạc và là người đi mua bài, nước để cho mọi người đánh bạc và trực tiếp tham gia đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc, L1 mang theo 277.000 đồng và bỏ ra 270.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang thì L1 đã thua hết số tiền này và bỏ chạy.
Vi Văn Nguyên khai: Khi tham gia đánh bạc, N bỏ ra 520.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang không biết thắng hay thua, số tiền đánh bạc N đã để hết xuống chiếu bạc và bỏ chạy.
Lục Văn Đ2 khai: Đ2 là người rủ B đi đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc, Đ2 mang theo 1.300.000 đồng. Khi vào chiếu bạc Đ2 trả cho Phạm Thị X số tiền 1.000.000 đồng nợ từ trước đó và bỏ ra 300.000 đồng để đánh bạc. Trước khi lực lượng công an bắt quả tang thì do đã thua hết 300.000 đồng nên Đ2 đã ra về trước.
La Văn L2 khai: Khi tham gia đánh bạc, L2 bỏ ra 280.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang không biết thắng hay thua, số tiền đánh bạc L2 đã để hết xuống chiếu bạc và bỏ chạy.
Lý Văn P khai: Khi tham gia đánh bạc, P bỏ ra 200.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang P đã thua hết tiền và bỏ chạy.
Trịnh Văn B khai: Khi tham gia đánh bạc, B bỏ ra 100.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang không biết thắng hay thua, số tiền đánh bạc B đã để hết xuống chiếu bạc và bỏ chạy.
Đối với anh Trần Văn T2 là chủ vườn keo nơi các bị cáo đánh bạc khai không biết, không cho phép các bị cáo đánh bạc tại vườn keo nhà mình.
Tại Cáo trạng số 02/QĐ-VKS-SĐ ngày 30 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố các bị cáo Phạm Thị Xuân, Nông Thị Hiền, Hoàng Văn Lợi, Lục Văn Đ2, Vi Văn N, La Văn L2, Lý Văn P và Trịnh Văn B về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nông Thị H 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án (hoặc kể từ ngày bắt thi hành án).
Phạt bổ sung bị cáo Nông Thị H 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung công quỹ nhà nước.
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lý Văn P 08 (T3) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án (hoặc kể từ ngày bắt thi hành án).
Phạt bổ sung bị cáo Lý Văn P 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung công quỹ nhà nước.
Ngoài ra bản án còn tuyên về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/02/2024, bị cáo Nông Thị H kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; cùng ngày 19/02/2024, bị cáo Lý Văn P kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo Nông Thị H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị cáo Lý Văn P bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Bị cáo Nông Thị H trình bày: Bị cáo có ông nội là Liệt sỹ chống mỹ được Tổ quốc ghi công, được tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng Ba, hiện tại mẹ đẻ bị cáo đang thờ cúng; bị cáo đã nộp 5.693.000 đồng tiền phạt bạc và án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lý Văn P trình bày: Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự là 02 năm 04 tháng; đã nộp 10.200.000đồng tiền phạt bạc và án phí hình sự sơ thẩm.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà các bị cáo nêu ra đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P; sửa hình phạt của bản án sơ thẩm; phạt bị cáo Nông Thị H 08 tháng tù, phạt bị cáo Lý Văn P 07 tháng tù cùng về tội “Đánh bạc” . Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P không tranh luận đối đáp gì.
Bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P nói lời sau cùng: không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P đã được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị Nông Thị H và Lý Văn P thì thấy: Buổi chiều ngày 21/9/2023, tại vườn keo của anh Trần Văn T2, các đối tượng Phạm Thị X, Nông Thị H, Hoàng Văn L1, Lục Văn Đ2, Vi Văn N, La Văn L2, Lý Văn P và Trịnh Văn B đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền. Trong quá trình tham gia đánh bạc Lục Văn Đ2 ra về trước sau đó Nông Thị H nghỉ không tham gia đánh bạc nữa. Những đối tượng còn lại đánh bạc đến 13 giờ 55 phút ngày 21/9/2023 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S phát hiện, bắt quả tang, bắt giữ tại chỗ 03 đối tượng tham gia đánh bạc gồm Phạm Thị X, Nông Thị H, Trịnh Văn B. Thu giữ tại vị trí các đối tượng đánh bạc số tiền 6.470.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 32 lá; 01 bộ bài tú lơ khơ còn mới nguyên; 01 chiếc bạt hình vuông màu đỏ, xanh, trắng. Ngoài ra còn thu giữ 03 chiếc điện thoại; 04 xe mô tô các loại; 01 xe ô tô biển kiểm soát 98A-606.56. Nông Thị Hiền giao nộp 01 điện thoại OPPO A55, màu xanh và số tiền 4.777.000 đồng; Trịnh Văn B giao nộp 01 điện thoại NOKIA 1280 màu đen và số tiền 3.500.000 đồng, trong đó có 270.000 đồng tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc; Phạm Thị X giao nộp 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh và số tiền 1.070.000 đồng, trong đó có 70.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo trên sử dụng vào mục đích đánh bạc trái phép được xác định là 6.810.000 đồng.
Như vậy, hành vi của các bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015. Từ những nội dung trên án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc”, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P: Tại phiên tòa, các bị cáo chỉ kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo nên các vấn đề khác của án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra giải quyết.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P thì thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định các bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; là có căn cứ.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng Do vậy, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lý Văn P sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, là có căn cứ.
Hành vi của các bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất an ninh trật tự tại địa phương.Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo Nông Thị H 09 (Chín) tháng tù; bị cáo Lý Văn P 08 (T3) tháng tù; là tương xứng với hành vi phạm tội đối với các bị cáo.
Tại quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo Nông Thị H xuất trình các tình tiết giảm nhẹ mới đó là bị cáo có ông N1 là Nông Văn L4 là Liệt sỹ chống mỹ được Tổ quốc ghi công, ông L4 được tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng Ba, hiện tại mẹ đẻ bị cáo đang thờ cúng; bị cáo đã nộp 5.693.000 đồng tiền phạt bạc và án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, hiện đang nuôi 02 con còn nhỏ, chồng đã ly hôn. Bị cáo Lý Văn P xuất trình các tình tiết giảm nhẹ mới đó là bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự là 02 năm 04 tháng; đã nộp 10.200.000đồng tiền phạt bạc và án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy, đây là các tài liệu chứng cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới chưa được áp dụng cho các bị cáo tại cấp sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Do các bị cáo là người có nhân thân xấu, đều mới bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P; sửa hình phạt của bản án sơ thẩm.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nông Thị H 07 (B1) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án (hoặc kể từ ngày bắt thi hành án).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lý Văn P 06 (S2) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án (hoặc kể từ ngày bắt thi hành án).
2. Về án phí: Các bị cáo Nông Thị H và Lý Văn P không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
- Xác nhận bị cáo Nông Thị H đã nộp 5.693.000 đồng tiền phạt và tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 0003315 ngày 04/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
- Xác nhận bị cáo Lý Văn P đã nộp 10.20.000 đồng tiền phạt và tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 0003314 ngày 26/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Gia Lương |
9
Bản án số 91/2024/HS - PT ngày 06/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 91/2024/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Thị Hiền và đồng phạm - Đánh bạc
