|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 91/2024/DSST Ngày: 03/5/2024 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sỹ và bà Trần Thị Phối
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Trần Thị Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn.
- Đại diện VKSND Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thành T - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 297/TLST-DS ngày 13/11/2023 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXX-ST ngày 27/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2024/QÐST-DS ngày 17/4/2024, giữa các đương sự :
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1
Trụ sở chính: 41- D L, phường B, Quận A, TP .
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T1 – Chủ tịch HĐQT
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh Y – Giám đốc Trung tâm bán hàng qua Điện thoại và D kiêm Phó giám đốc Chi nhánh T4.
(Theo văn bản uỷ quyền số 66/2021/UQ-CTHĐQT ngày 30 tháng 06 năm 2021)
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Nhật T2 – Nhân viên thu hồi nợ hiện trường. (Anh T2 có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: H Y, phường P, TP ., tỉnh Khánh Hòa.
(Theo văn bản uỷ quyền số 6357/2023/UQ-OCB ngày 01 tháng 06 năm 2023)
* Bị đơn: Anh Đỗ Ngọc T3, Sinh năm: 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 1, Khu phố E, P. N, TP ., Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP P1 – anh Nguyễn Nhật T2 trình bày:
Ngày 11/05/2022, Ngân hàng TMCP P1 (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) với anh Đỗ Ngọc T3 đã ký Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 2449624. Theo đó, Ngân hàng và anh Đỗ Ngọc T3 thoả thuận, anh T3 vay vốn của Ngân hàng TMCP P1 với số tiền là 135.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm ba mươi lăm triệu đồng) với mục đích mua sắm trang thiết bị nội thất, lãi suất cho vay là 15.9%/năm (Ngân hàng được quyền điều chỉnh, thay đổi kỳ điều chỉnh lãi suất, lãi suất cơ sở hoặc phương thức xác định lãi suất cho vay phải tuân thủ chịu sự điểu chỉnh theo chính sách lãi suất của Ngân hàng tại từng thời kỳ), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Thời gian trả nợ gốc và lãi là vào ngày 18 hàng tháng. Ngày 18/05/2022, Ngân hàng đã giải ngân cho anh Đỗ Ngọc T3 vào tài khoản số 017611000005004 với số tiền là 135.000.000 đồng. Từ thời điểm giải ngân cho ngày 22/8/2022 ông Đỗ Ngọc T3 đã thanh toán cho ngân hàng C1 kỳ với tổng cộng số tiền là 11.547.771 đồng (trong đó tiền gốc là 6.134.646 đồng, tiền lãi là 5.413.125 đồng). Từ sau ngày 22/8/2022 anh T3 đã liên tiếp vi phạm các kỳ trả nợ cho Ngân hàng M, Ngân hàng đã có nhiều văn bản nhắc nợ và có rất nhiều buổi làm việc, cũng như đã tạo điều kiện cho anh T3 trả nợ đúng kỳ hạn nhưng đều không được anh T3 đáp trả. Tạm tính đến ngày 03/05/2024, dư nợ của anh Đỗ Ngọc T3 tại Ngân hàng TMCP P1 là 168.891.620 đồng, trong đó nợ gốc là 128.865.354 đồng; nợ lãi là 40.026.266 đồng;
Nay Ngân hàng TMCP P1 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn buộc anh Đỗ Ngọc T3 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ một lần cho Ngân hàng TMCP P1 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 03/5/2024 là 168.891.620 đồng, trong đó nợ gốc là 128.865.354 đồng; nợ lãi là 40.026.266 đồng và tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh từ ngày 04/05/2024 cho đến khi anh T3 thanh toán hết nợ.
Bị đơn anh Đỗ Ngọc T3 được Tòa tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập hợp lệ để đến tòa khai báo, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T3 không đến Toà. Tại phiên toà hôm nay, anh T3 vắng mặt không có lý do.
+ Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn phát biểu việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự : Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Đỗ Ngọc T3 không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự được quy định tại các Điều 70 và 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95, 98 Luật tổ chức tín dụng; Điều 7, 8, 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất. Đề nghị HĐXX: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P1. Buộc anh Đỗ Ngọc T3 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P1 số tiền gốc và tiền lại tạm tính đến ngày 03/05/2024 tổng cộng là 168.891.620 đồng, trong đó nợ gốc là 128.865.354 đồng; nợ lãi là 40.026.266 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 04/5/2024 cho đến khi anh T3 trả hết nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay đại diện nguyên đơn anh Nguyễn Nhật T2 có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Đỗ Ngọc T3 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng; Bị đơn có cư trú tại tổ I, khu V, phường N, TP ., tỉnh Bình Định nên xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự
- Về nội dung: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 2449624 ngày 11/5/2022 được thiết lập giữa anh Đỗ Ngọc T3 với Ngân hàng TMCP P1 thì về nội dung và hình thức của Hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên giao dịch dân sự này hợp pháp.
Đối với Hợp đồng tín dụng số 2449624 ngày 11/5/2022, Ngân hàng TMCP P1 đã cho anh Đỗ Ngọc T3 vay 135.000.000 đồng để mua sắm trang thiết bị nội thất, thời hạn vay 48 tháng, lãi suất vay 15,9%/năm (tuỳ theo từng thời kỳ mà Ngân hàng được quyền điều chỉnh lãi suất); Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Từ khi hai bên xác lập hợp đồng vay đến ngày 22/8/2022 anh T3 đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP P1 với tổng số tiền là 11.547.771 đồng (trong đó tiền gốc là 6.134.646 đồng, tiền lãi là 5.413.125 đồng). Từ đó đến nay, mặc dù Ngân hàng TMCP P1 đã nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng anh T3 không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng nhiều lần triệu tập và đến nơi cư trú để làm việc nhưng anh T3 không chấp hành, không đến Tòa khai báo và làm việc. Do anh T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc anh Đỗ Ngọc T3 có nghĩa vụ thanh toán một lần cho Ngân hàng TMCP P1 số tiền là 168.891.620 đồng (trong đó nợ gốc là 128.865.354 đồng; nợ lãi là 40.026.266 đồng). Ngoài ra, anh T3 còn phải chịu tiền lãi phát sinh theo quy định tính từ ngày 04/5/2024 cho đến khi trả hết nợ.
- Về án phí: Căn cứ điểm khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì anh Đỗ Ngọc T3 phải chịu 8.445.000 đồng án phí DSST. Ngân hàng TMCP P1 không phải chịu án phí nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.520.000 đồng.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng P1.
- Buộc anh Đỗ Ngọc T3 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P1 số tiền nợ gốc là 128.865.354 đồng; tiền lãi tạm tính đến hết ngày 03/5/2024 là 40.026.266 đồng. Tổng cộng là 168.891.620 đồng (Một trăm sáu mươi tám triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm hai mươi đồng).
- Ngoài ra, anh Đỗ Ngọc T3 còn phải chịu tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 2449624 ngày 11/5/2022 đã ký với Ngân hàng TMCP P2 tính từ ngày 04/5/2024 cho đến khi trả hết nợ gốc.
-
Án phí Dân sự sơ thẩm: Anh Đỗ Ngọc T3 phải chịu 8.445.000 (Tám triệu bốn trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP P1 3.520.000 (Ba triệu năm trăm hai mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000101 ngày 10/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Hồng Diễm |
Bản án số 91/2024/DSST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 91/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP P yêu cầu anh T trả tiền vay
